Chuyên đề:“Nâng cao chất lượng kiểm sát trực tiếp hoạt động thi hành án dân sự và chất lượng kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án”.
15:09 07/03/2017

CHUYÊN ĐỀ

“Nâng cao chất lượng kiểm sát trực tiếp hoạt động thi hành án dân sự và

chất lượng kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án”.

I. THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SÁT TRỰC TIẾP TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ , KIỂM SÁT CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN VÀ CÁC NHÓM VI PHẠM CỦA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ.

1. Kết quả kiểm sát của Viện kiểm sát

Qua công tác trực tiếp kiểm sát thi hành án dân sự, Viện KSND hai cấp đã phát hiện nhiều dạng vi phạm pháp luật của cơ quan thi hành dân sự, Chấp hành viên trong hoạt động thi hành án dân sự như sau: quyết định thi hành án dân sự vi phạm về thời hạn ban hành, thiếu căn cứ;  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Tòa án gửi cho cơ quan THADS vi phạm về thời hạn; vi phạm các qui định về xác minh điều kiện thi hành án; phân loại điều kiện thi hành án sai; việc có điều kiện thi hành nhưng chưa kiên quyết tổ chức thi hành, để dây dưa kéo dài; vi phạm trong xử lý vật chứng, vi phạm trong kê biên định giá tài sản, chi trả tiền thi hành án chậm; cơ quan Thi hành án gửi các quyết định về thi hành án chậm; biên lai thu tiền bị tẩy xóa và sửa chữa. Tiêu hủy vật chứng  vi phạm  để quá thời hạn; không lưu phiếu chi tiền cho người được thi hành án; không lưu giấy đề nghị chi của Chấp hành viên vào hồ sơ; vi phạm về thời hạn hoãn thi hành án; vi phạm về cưỡng chế thi hành án….

Ngoài ra trong quá trình trực tiếp kiểm sát thi hành án dân sự tại cơ quan THADS, Viện KSND hai cấp còn phát hiện một số vi phạm pháp luật của các cơ quan khác có liên quan đến công tác THADS như: Toà án nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Viện KSND đã kịp thời ban hành kiến nghị yêu cầu khắc phục kịp thời và được các cơ quan bị kiến nghị chấp nhận.

2 . Một số tồn tại, hạn chế trong việc trực tiếp kiểm sát toàn diện, các dạng vi phạm của Cơ quan THADS và kiểm sát cưỡng chế thi hành án.

2.1. Nhóm vi phạm, tồn tại của Viện kiểm sát:

- Khi xây dựng hồ sơ kiểm sát trực tiếp một số Viện kiểm sát phản ánh chưa đầy đủ đúng trọng tâm và nội dung cụ thể kiểm sát trực tiếp. Nội dung trực tiếp kiểm sát của một số đơn vị chỉ kiểm sát về số việc về quyết định thi hành án chủ động, thi hành án theo đơn yêu cầu, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ không phải là nội dung kiểm sát toàn diện nên không đánh giá được toàn diện hoạt động THADS do đó một số Viện KSND sau khi trực tiếp kiểm sát phát hiện được rất ít vi phạm của cơ quan THADS, đôi khi chỉ phát hiện một vài trường hợp vi phạm nhỏ chỉ đủ để có kiến nghị. Không phát hiện được vi phạm lớn, hoặc những vi phạm mang tính chất phổ biến, thường xuyên xảy ra.

- Quá trình kiểm sát trực tiếp kiểm sát viên phát hiện vi phạm nhưng không lập biên bản, không lập phiếu kiểm sát. Kiểm sát viên chỉ ghi vào sổ sách giấy tờ của mình về các vi phạm sau đó tập hợp vào trong bản kết luận để công bố nên dẫn đến việc tranh cãi trong quá trình kết luận trực tiếp kiểm sát.

- Kết thúc đợt trực tiếp kiểm sát kiểm sát viên chưa báo cáo kết quả, nội dung vi phạm nên Lãnh đạo một số đơn vị khi xác định vi phạm pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự chỉ nêu chung chung, không có định lượng, không phân biệt dạng vi phạm, không phân biệt rõ vụ và việc.

- Một số đơn vị nội dung kiến nghị còn chung chung, không nêu rõ yêu cầu khắc phục những vi phạm pháp luật nào, chỉ khái quát yêu cầu khắc phục vi phạm đã nêu tại mục a, b ... của kết luận; một số đơn vị ban hành văn bản kiến nghị riêng tuy nhiên chỉ bằng hình thức công văn, chưa nêu nguyên nhân trách nhiệm không đúng theo mẫu một văn bản kiến nghị.

- Về nội dung kết luận và kiến nghị áp dụng văn bản pháp luật đã hết hiệu lực và được thay thế bằng văn bản khác như Thông tư 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011 của Bộ Tư Pháp được thay bằng Thông tư 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư Pháp (Kiến nghị số 259/KN-VKS ngày 20/7/2016 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn).

2.2. Nhóm vi phạm, tồn tại của Cơ quan thi hành án dân sự:

- Vi phạm trong quản lý và tổ chức thi hành án:

+ Không lập đủ hoặc không ghi chép đầy đủ và rõ ràng sổ sách về THADS;

+ Tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án chưa đúng đủ thủ tục như: không ký nhận vào sổ; tiếp nhận bản án, hoặc không đóng dấu "Đến" trên bản án, quyết định của Tòa án;

+ Ra quyết định thi hành án áp dụng căn cứ không đầy đủ; không đúng nội dung bản án, quyết định Tòa án tuyên; gửi quyết định cho Viện kiểm sát nhân dân chậm.

+ Không thông báo quyết định thi hành án cho đương sự theo quy định tại Khoản 2, điều 39 quy định: “Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án”.

+ Không xác minh hoặc xác minh chậm điều kiện THA; xác minh điều kiện không rõ nhưng vẫn phân loại có điều kiện để tổ chức thi hành, hoặc phân loại chưa có điều kiện thi hành để xử lý cho hoãn; ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án không đúng.

+ Đương sự có điều kiện thi hành án nhưng Cơ quan thi hành án không có biện pháp để tổ chức thi hành.

* Nhóm vi phạm về xử lý tang vật, tài sản để thi hành án:

+ Chậm xử lý tiêu hủy tang vật; chậm chuyển giao tài sản sung công cho cơ quan tài chính; Hội đồng tiêu hủy không đúng thành phần; nhập, xuất kho tang vật không lập đủ phiếu nhập xuất kho, không kiểm kê kho định kỳ.

* Nhóm vi phạm về chấp hành chế độ kế toán nghiệp vụ THADS: Vi phạm trong lập sổ sách nghiệp vụ thi hành án; biên lai tạm thu, thu, chi tiền thi hành án còn tẩy xóa, người nộp tiền không ký, không ghi ngày tháng năm nộp tiền; Chấp hành viên chậm nộp tiền THA vào quỹ THA; Chấp hành viên và kế toán chậm làm thủ tục nộp NSNN;  Chậm chi trả tiền; Không nộp NSNN loại việc đã gọi báo nhiều lần và đã quá hạn 5 năm nhưng không đến nhận tiền THA nhưng cơ quan thi hành án dân sự không gửi tiết kiệm không kỳ hạn để có căn cứ sung công quỹ nhà nước; kế toán, Chấp hành viên chưa thực hiện đầy đủ việc hạch toán theo dõi tang vật, tài sản THA theo chế độ nghiệp vụ kế toán THADS quy định tại Thông tư  91/2010 của Bộ Tài chính;

* Nhóm vi phạm về lập hồ sơ thi hành án: Lập, sắp xếp và lưu không đủ tài liệu cần thiết và chưa đánh dấu bút lục đầy đủ.

2.1 .Nhóm vi phạm, tồn tại của hồ sơ cưỡng chế thi hành án:

- Quyết định cưỡng chế thi hành án áp dụng văn bản luật chưa có hiệu lực pháp luật nhưng quá trình kiểm sát Kiểm sát viên không phát hiện được vi phạm.

Ngày 23/6/2015 Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh căn cứ khoản 5 điều 20, khoản 3 điều 71, điều 111 Luật thi hành án dân năm 2014 ra Quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 01/QĐ-CCTHA khi Luật thi hành án dân sự năm 2014 chưa có hiệu lực (Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2015).

- Các đương sự thỏa thuận kê biên tài sản ngoài quyết định cưỡng chế, kê biên của Cơ quan thi hành án nhưng Chấp hành viên không lập biên bản thỏa thuận.

Ví dụ:  Ngày 25/6/2015 Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh lập biên bản kê biên tài sản theo quyết định công nhận sự thỏa thuận được ghi nhận tại Tòa án, đơn yêu cầu thi hành án của đương sự, quyết định cưỡng chế là: Quyền sử dụng đất mang tên ông Phan Công Hiền và bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, địa chỉ tổ dân phố 4 phường Bắc Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, diện tích đất là 197,6m2, tài sản trên đất là 01 ngôi nhà 07 tầng với diện tích sử dụng là 1500 m 2 ngoài ra biên bản còn phản ánh kê biên thêm 13 loại tài sản khác như tivi, tủ lạnh, điều hòa, bàn ghế, giường, tủ, thang máy… Tuy vậy, trong hồ sơ không có văn bản phản ánh Cơ quan thi hành án dân sự lập biên bản thỏa thuận của các bên đương sự về việc kê biên thêm các loại tài sản trên.

- Trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, có trường hợp Cơ quan thi hành án không tiến hành xác minh; xác minh không đầy đủ, cụ thể tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án dẫn đến quá trình cưỡng chế có nhiều khó khăn, người phải thi hành án tẩu tán tài sản nhưng Cơ quan THA không biết.

- Vi phạm trong việc thông báo không đầy đủ, kịp thời các văn bản về cưỡng chế cho các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Trung tâm bán đấu giá tài sản niêm yết thông báo bán đấu giá tài sản không đầy đủ tại các nơi quy định.

Ví dụ: Ngày 11/9/2015 Cơ quan thi hành án dân sự hợp đồng với Công ty TNHH bán đấu giá tài sản số I Hà Tĩnh bán tài sản là quyền sử dụng đất số AN375991, do UBND thị xã Hồng Lĩnh cấp ngày 15/01/2009, diện tích 197,6m 2 và tài sản gắn liền trên đất mang tên ông Phan Công Hiền và bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, địa chỉ tổ dân phố 4, phường Bắc Hồng, thị xã Hồng Lĩnh. Giá khởi điểm: 13.022.120.000 đồng, tuy vậy Công ty TNHH không niêm yết thông báo bán đấu giá tài sản tại nơi có tài sản là khách sạn ASEAN thuộc tổ 4, phường Bắc Hồng, thị xã Hồng Lĩnh.

- Quá trình tổ chức cưỡng chế, Cơ quan thi hành án dân sự đo đạc thực địa đất không chính xác; xác định mốc giới không đúng với bản án tuyên; không xác minh tại Cơ quan chức năng đăng ký quyền sử dụng đất.

Ví dụ: Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê ngày 24/3/1998 anh Trần Ngọc Hùng và bà Trần Thị Hoa thống nhất quan hệ tài sản theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và đất vườn 1580 m 2 , thỏa thuận chia đôi mỗi người sở hữu 790 m 2 . Chị Trần Thị Hoa có tứ cận: Phía Tây giáp ngã tư vườn ông An; Phía Bắc giáp đường liên xã; phía Nam giáp cận vườn anh Hùng; phía Đông giáp vườn bà Mông. Năm 2004, UBND xã Hương Vĩnh mở rộng tuyến đường liên thôn và mở mương thoát nước ảnh hưởng phần đất của chị Hoa có chiều rộng 3,5m; chiều dài 36m. Tháng 4/2009 và tháng 8/2010 anh Trần Ngọc Dũng và chị Trần Thị Vân tự ý đến dựng nhà ở trên phần đất của chị Hoa nên chị đã làm đơn khởi kiện Tòa án. Bản án của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê và của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tuyên: Buộc anh Trần Ngọc Dũng và chị Trần Thị Vân trả lại đất cho chị Hoa tổng diện tích 728m 2 , vị trí tứ cận: phía Đông giáp vườn ông Mông dài 26m; phía Tây giáp đường đi Nông trường Cao Su dài 26m; phía Nam giáp vườn ông Trần Ngọc Hùng 29m; phía Bắc giáp đường liên xã dài 27m.

Cơ quan Thi hành án dân sự không nghiên cứu kỹ mốc tiếp giáp tứ cận của quyết định bản án tuyên giáp đường liên xã (vì năm 2004 đường liên xã được UBND huyện Hương Vĩnh mở rộng 3,5m x dài 36m = 126m2 cắt đi một phần đất của chị Hoa) nên Chi cục Thi hành án dân sự đo từ mép mương dẫn nước vào điểm cắm mốc 26m là không đúng vì bản án tuyên từ giáp đường liên xã.

- Xác định chi phí cưỡng chế không chính xác không đúng quy định của pháp luật. Cụ thể:

Ngày 21/8/2014, Cơ quan THDS đã ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với Công ty TNHH bán đấu giá tài sản số 1 Hà Tĩnh và bán đấu giá thành công số tiền 1.842.000.000 đồng. Chi cục trưởng và Kế toán đã lập chứng từ chi trả đấu giá 34.460.000 đồng cho công ty TNHH bán đấu giá tài sản số 1 Hà Tĩnh. Tuy vậy, theo quy định pháp luật thì tài sản bán đấu giá thành công 1.842.000.000 đồng của ông Trần Minh Khả và bà Nguyễn Thị Oanh với mức phí phải thu 18.434.000 đồng, nhưng Cơ quan thi hành án chi trả 34.460.000 đồng vượt quá 16.026.000 đ.

- Cơ quan Thi hành án dân sự tự chi số tiền ổn định cuộc sống và di dời tài sản cho gia đình bị cưỡng chế tài sản với số tiền lớn không có sự đồng ý của người được thi hành án và không đúng quy định. Cụ thể:

Ngày 10/9/2015 Cơ quan THADS làm việc với Ngân hàng NN và ông Trần Minh Khả về việc hỗ trợ tiền thuê nhà cho gia đình ông Khả và Ngân hàng Nông nghiệp thống nhất với số tiền 50 triệu đồng. Ngày 21/9/2015, ông Khả, bà Oanh làm đơn đề nghị Ngân hàng Nông nghiệp hỗ trợ 300.000.000 đồng hỗ trợ tiền thuê nhà và Cơ quan Thi hành án  đã lấy tiền bán đấugiá tài sản tự chi cho ông Khả, bà Oanh với số tiền 300 triệu đồng (240 triệu đồng tiền ổn định cuộc sống và 60 triệu đồng tiền di dời tài sản).

- Quá trình kê biên Chấp hành viên chưa phản ánh tình trạng từng loại tài

sản và không giao cho ai quản lý, bảo quản để mất mát, hư hỏng.

Điển hình: Ngày 04/7/2014, Cơ quan thi hành án kê biên đất và nhà ở của ông Khả và bà Oanh nhưng không phản ánh rõ tình trạng tài sản nên đã để mất 04 cánh cửa bằng kính cường lực, 02 cánh cửa phía sau; toàn bộ trang thiết bị nội thất trong 02 phòng vệ sinh và hệ thống điện ngầm bị phá hư hỏng; Chấp hành viên không thành lập Hội đồng định giá tài sản bị mất và thông báo cho Ngân hàng Nông nghiệp biết và không làm việc với ông Khả và Oanh về nội dung trên mà tự ý chi 65 triệu đồng tiền bồi thường cho ông Nguyễn Tiến Hảo (người mua tài sản yêu cầu bồi thường) là chưa thực hiện đúng quy định pháp luật.

- Chi cục Thi hành án tự ý trích 2% tiền thuế thu nhập cá nhân từ số tiền

bán đấu giá tài sản kê biên của ông Trần Minh Khả và của bà Nguyễn Thị Oanh và chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự với số tiền 36,8 triệu đồng để thanh toán cho người mua trúng đấu giá là thực hiện không đúng luật.

- Việc thu phí thi hành án không đúng pháp luật.

Ví dụ: Người phải thi hành án là ông Trần Văn Thiện, Trần Thị Mai, Trần Thị Tĩnh phải thi hành cho người được thi hành án Trần Văn Lương, Trần Văn Mạnh, Cơ quan thi hành án dân sự chứng kiến các đương sự thỏa thuận tự giao tài sản cho nhau và Chấp hành viên đã ra quyết định thu phí thi hành án với mức thu 3% số giá trị tài sản đương sự thực hiện.

- Về Chứng thư thẩm định giá tài sản chưa ghi rõ về giá các loại tài sản được thẩm định. Cụ thể:

Chứng thư thẩm định giá số 434/2015/CTTĐG-VFAVIETNAM ngày 29/8/2015 của Công ty TNHH thẩm định giá và tư vấn tài chính Việt Nam, thẩm định quyền sử dụng đất và công trình, vật kiến trúc gắn liền trên đất tại khách sạn ASEAN số 30, đường Trần Phú, phường Bắc Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (Chi tiết tại phụ lục 01 kèm theo). Phụ lục 01 ghi rõ tài sản được thẩm định là đất, khách sạn 07 tầng, tài sản trong nhà là bàn ghế, cầu thang máy, tivi, tủ lạnh, giường….với tổng giá trị tài sản được thẩm định là 13.022.120.000 đồng. Trong đó quyền sử dụng đất là 3.081.572.000 đồng và tài sản gắn liền trên đất là nhà 9.940.547.989 đồng. Như vậy, 13 loại tài sản được ghi nhận trong Chứng thư thẩm định giá (kèm theo phục lục số 01) Công ty TNHH thẩm định giá và tư vấn Tài chính Việt Nam không tiến hành thẩm định số tiền mỗi loại là bao nhiêu.

- Các Quyết định giảm giá (07 quyết định giảm giá) và Thông báo giảm giá của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh tài sản giảm giá gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 197,6 m 2 và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà 07 tầng. Không có các tài sản khác trong nhà, không có chữ ký của bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – người có tài sản.

Các biên bản giải quyết thi hành án cũng như công văn số 215 ngày 03/8/2016 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh về việc bán đấu giá tài sản thi hành án đồng ý ủy quyền cho Công ty TNHH bán đấu giá tài sản số I Hà Tĩnh bán tài sản: Quyền sử dụng đất được UBND thị xã Hồng Lĩnh cấp ngày 15/01/2009 diện tích 197,6 m 2 và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà 07 tầng (khách sạn ASEAN) diện tích sử dụng 1.511,84m 2 mang tên ông Phan Công Hiền và bà Nguyễn Thị Thúy Hằng. Không có các tài sản khác trong nhà.

Như vậy, những sai sót của Cơ quan thi hành án dân sự, Ủy ban nhân dân trong việc đo đạc thực địa đất, của Công ty thẩm định giá… ảnh hưởng đến việc thi hành án dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện kéo dài trong quá trình thi hành án.

3. Nguyên nhân:

Do một số cán bộ, chấp hành viên của Cơ quan thi hành án dân sự được giao nhiệm vụ chưa thực hiện nghiêm túc việc thực hiện các quy định trong công tác thi hành án theo quy định Luật thi hành án dân sự. Lãnh đạo Cơ quan thi hành án dân sự chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc trong hoạt động thi hành án để phát hiện tồn tại, vi phạm và yêu cầu cán bộ, chấp hành viên chấn chỉnh khắc phục.

Công tác trực tiếp kiểm sát THADS chưa được Viện KSND cấp huyện chú trọng, thể hiện qua việc chưa bố trí Kiểm sát viên có năng lực, có kinh nghiệm, nhiều Viện KSND huyện bố trí cán bộ mới được tuyển dụng và ngành làm công tác thi hành án dân sự chưa có kinh nghiệm trong công tác. Một số cán bộ, Kiểm sát viên thiếu trách nhiệm trong công tác, nhận thức về công tác THADS ở một số bộ phận cán bộ,  Kiểm sát viên còn hạn chế, xem nhẹ khâu công tác này; không nắm vững các qui định của pháp luật về THADS và các văn bản tài liệu liên quan… nên còn xẩy ra sai sót.

Cán bộ, Kiểm sát viên khi trực tiếp kiểm sát chưa chú trọng nhiều đến công việc, còn thụ động, lơ là, ngại va chạm, nể nang, chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong quá trình trực tiếp kiểm sát THADS, dẫn đến công tác trực tiếp kiểm sát thi hành án dân sự còn hạn chế, yếu kém, các vi phạm của cơ quan thi hành án chưa được phát hiện kịp thời. Việc tổng hợp vi phạm để kiến nghị với các cơ quan chức năng  chưa nhiều, chất lượng chưa cao.

II. MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT TRỰC TIẾP VÀ KIỂM SÁT CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN SÂN SỰ.

Từ thực tiễn hoạt động kiểm sát trực tiếp thi hành án tại Cơ quan thi hành án dân sự và kiểm sát hoạt động cưỡng chế thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tổng hợp rút ra một số giải pháp sau đây nhằm nâng cao hơn nữa

chất lượng kiểm sát của kiểm sát viên. Cụ thể:

1. Để kiểm sát, áp dụng căn cứ pháp luật được đầy đủ, đúng nội dung Lãnh đạo, kiểm sát viên, cán bộ làm công tác kiểm sát thi hành án dân sự cần tăng cường nghiên cứu, nắm vững các quy định pháp luật liên quan đến công tác thi hành án dân sự (Có phụ lục kèm theo các văn bản pháp luật).

2. Đối với trách nhiệm của Lãnh đạo đơn vị cần chỉ đạo kiểm sát viên kiểm sát toàn diện các nội dung thi hành án nhằm phát hiện vi phạm của cơ quan thi hành án và tồn tại của cán bộ, kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát trực tiếp và kiểm sát cưỡng chế thi hành án. Thực tiễn minh chứng đơn vị nào Lãnh đạo Viện có trách nhiệm thì ở đó chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án dân sự nói chung và công tác kiểm sát trực tiếp và kiểm sát việc cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự nói riêng được nâng lên rõ rệt.

3. Đối với cán bộ, kiểm sát viên làm công tác kiểm sát thi hành án dân sự phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, niềm say mê, nhiệt huyết với công việc được giao; có phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả.

4. Trong kiểm sát trực tiếp tại Cơ quan thi hành án dân sự:

Để trực tiếp kiểm sát tại cơ quan THADS được thuận lợi, đạt chất lượng và hiệu quả thì trong hoạt động kiểm sát thường kỳ phải vào sổ đầy đủ các loại quyết định của Cơ quan thi hành án dân sự; nắm chắc số việc, số tiền phải thi hành; kiểm sát chặt chẽ việc phân loại việc điều kiện thi hành án, cưỡng chế thi hành án; kiểm sát hoạt động thi hành án của Chấp hành viên; nắm vững số tiền thu, chi tại Kế toán thi hành án; kiểm sát chặt chẽ hồ sơ áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án; kiểm sát và phối hợp các cơ quan liên quan trong việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo về thi hành án được kịp thời chính xác, có tình, có lý; hàng tháng phải lập biên bản chốt số liệu số việc, tiền còn phải thi hành với Cơ quan thi hành án dân sự, việc chuyển giao bản án quyết định của Tòa án cho Cơ quan thi hành án dân sự.

- Trước khi trực tiếp kiểm sát tại Cơ quan thi hành án dân sự Trưởng đoàn trực tiếp kiểm sát phải lập Kế hoạch trực tiếp kiểm sát, trong đó nêu rõ các nội dung cơ bản sau đây: Mục đích, yêu cầu của việc trực tiếp kiểm sát; các nội dung cần kiểm sát; cách thức tiến hành trực tiếp kiểm sát; trách nhiệm của đơn vị được kiểm sát. Kế hoạch trực tiếp kiểm sát phải trình đồng thời với Quyết định trực tiếp kiểm sát để lãnh đạo Viện xem xét và do Trưởng đoàn ký sau khi lãnh đạo Viện đã ký Quyết định trực tiếp kiểm sát.

- Kiểm sát trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự tập trung vào 26 nội dung cơ bản sau: Kiểm sát việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định; giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung; giải quyết yêu cầu, kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án ; Kiểm sát việc tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án dân sự, hành chính ; Kiểm sát việc ra quyết định thi hành án dân sự, yêu cầu, đôn đốc thi hành bản án, quyết định hành chính ; Kiểm sát nội dung quyết định, việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; việc gửi quyết định hoặc thông báo về thi hành án ; Kiểm sát việc ủy thác thi hành án dân sự ; Kiểm sát việc xác minh Điều kiện thi hành án dân sự ; Kiểm sát việc hoãn, tạm đình chỉ, tiếp tục thi hành án dân sự, đình chỉ thi hành án dân sự ; Kiểm sát việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án ; Kiểm sát việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án ; Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án ; Kiểm sát việc thi hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, của Trọng tài thương mại ; Kiểm sát việc thi hành khoản tịch thu sung quỹ Nhà nước, tiêu hủy tài sản; hoàn trả tiền, tài sản kê biên, tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự ; Kiểm sát việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước ; Kiểm sát việc tổ chức thi hành án dân sự cho các phạm nhân đang chấp hành án phạt tù ; Kiểm sát việc thi hành các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án ; Kiểm sát việc thi hành quyết định về phá sản ; Kiểm sát việc bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thực hiện nghĩa vụ thi hành án ; Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính ; Kiểm sát việc kết thúc thi hành án ; Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án ; Kiểm sát việc xử lý vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự, hành chính ; Kiểm sát việc lập sổ và vào sổ, trình tự xây dựng hồ sơ và sắp xếp hồ sơ.

- Quá trình kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ thi hành án, tài liệu, sổ sách mà phát hiện có vi phạm pháp luật thì phải lập biên bản sự việc hoặc phiếu kiểm sát quyết định, hồ sơ thi hành án có ký xác nhận của đại diện bên được kiểm sát và người trực tiếp kiểm sát. Việc lập phiếu kiểm sát hoặc biên bản trước hết có ý nghĩa xác nhận một vi phạm, làm cơ sở để tập hợp xây dựng kết luận và hạn chế việc tranh cãi xẩy ra khi công bố kết luận trực tiếp kiểm sát thi hành án dân sự. Các phiếu kiểm sát hoặc biên bản xác định vi phạm cần ghi rõ số ngày tháng năm của việc thi hành án hay lĩnh vực được kiểm sát, những vi phạm pháp luật, căn cứ pháp lý để xác định vi phạm; trách nhiệm của chấp hành viên để xẩy ra vi phạm và đề xuất biện pháp khắc phục. Phiếu kiểm sát hoặc biên bản xác định sự việc vi phạm phải lưu trong hồ sơ kiểm sát và là cơ sở để Viện kiểm sát cấp trên kiểm tra lại hoạt động thi hành án dân sự cũng như kiểm tra lại hoạt động nghiệp vụ của Đoàn trực tiếp kiểm sát khi cần thiết.

Người được phân công có trách nhiệm tập hợp kết quả trực tiếp kiểm sát của các thành viên trong Đoàn để xây dựng dự thảo Kết luận, trình Trưởng đoàn xem xét. Nội dung Kết luận trực tiếp kiểm sát theo mẫu quy định; trong đó nêu rõ quá trình trực tiếp kiểm sát, các việc mà Đoàn kiểm sát đã làm; kết quả đạt được (ưu điểm) và tồn tại, hạn chế, các vi phạm trong hoạt động THADS hoặc trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự; yêu cầu đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc khắc phục các tồn tại, hạn chế, vi phạm; trong việc xử lý trách nhiệm đối với các cá nhân. Khi kết luận về các vi phạm, cần phải xác định rõ vi phạm điều, khoản của văn bản pháp luật nào, viện dẫn điều luật cụ thể để làm rõ vi phạm trong việc THADS. Kết luận phải đưa ra yêu cầu đối với cơ quan và người có trách nhiệm trong việc khắc phục vi phạm, phòng ngừa vi phạm. Trong kết luận trực tiếp kiểm sát không đưa ra kiến nghị mà đưa ra yêu cầu khắc phục vi phạm. Trường hợp qua trực tiếp kiểm sát mà phát hiện tình trạng vi phạm thì Viện kiểm sát có thể bản hành kiến nghị khắc phục và phòng ngừa. Trong quá trình trực tiếp kiểm sát mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng cần phải yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm hoặc thu hổi, hủy bỏ về quyết định thi hành án có vi phạm thì Viện kiểm sát ban hành kháng nghị, không cần chờ có kết luận trực tiếp kiểm sát.

+ Tổ chức công bố dự thảo Kết luận trực tiếp kiểm sát. Tùy theo phạm vi kiểm sát trực tiếp, kết quả kiểm sát, tính chất và mức độ vi phạm của cơ quan được kiểm sát mà bảo đảm thành phần tham gia công bố Kết luận có đại diện lãnh đạo Viện kiểm sát, cơ quan chủ quản của cơ quan, tổ chức được kiểm sát. Trưởng đoàn trực tiếp kiểm sát tiếp thu các ý kiến tại buổi công bố kết luận; ký kết luận và chịu trách nhiệm về kết luận trực tiếp kiểm sát.

+ Trường hợp qua trực tiếp kiểm sát mà phát hiện có vi phạm pháp Luật nghiêm trọng cần đề xuất xử lý kỷ luật hoặc xem xét trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm thì Trưởng đoàn trực tiếp kiểm sát phải báo cáo lãnh đạo Viện trước khi ký Kết luận trực tiếp kiểm sát.

+ Trong quá trình trực tiếp kiểm sát, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà Viện kiểm sát ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục, phòng ngừa theo quy định của pháp luật.

- Tiến hành kiểm sát (phúc tra) việc thực hiện các yêu cầu trong Kết luận trực tiếp kiểm sát. Việc phúc tra thực hiện bằng phúc tra trực tiếp hoặc yêu cầu tự kiểm tra và báo cáo bằng văn bản. Khi phúc tra trực tiếp, Viện kiểm sát phải ban hành Quyết định phúc tra, trong đó nêu rõ thành phần Đoàn phúc tra, nội dung phúc tra tập trung vào kết quả thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát trong Kết luận trực tiếp kiểm sát. Kết thúc phúc tra, Trưởng đoàn ban hành kết luận phúc tra, gửi cho cơ quan, tổ chức được phúc tra và cơ quan chủ quản của họ; gửi Viện kiểm sát cấp trên để báo cáo.

- Hồ sơ trực tiếp kiểm sát phải lưu giữ đầy đủ các tài liệu, văn bản có liên quan đến quá trình trực tiếp kiểm sát và quá trình kiểm sát việc thực hiện các yêu cầu trong Kết luận trực tiếp kiểm sát. Hồ sơ kiểm sát được bảo quản, xử lý theo quy định của pháp luật và của Ngành.

5. Một số cách thức trực tiếp kiểm sát hoạt động của cơ quan THADS:

5.1. Kiểm sát việc thụ lý đơn yêu cầu thi hành án:

Khi kiểm sát trực tiếp Kiểm sát viên yêu cầu Chấp hành viên cung cấp hồ sơ đơn yêu cầu đã thụ lý để kiểm sát hồ sơ thi hành án.

Quá trình kiểm sát trực tiếp việc thụ lý đơn Kiểm sát viên cần kiểm sát việc tiếp nhận, từ chối yêu cầu, thẩm quyền, nội dung, thủ tục yêu cầu của Cơ quan thi hành án dân sự. Cụ thể:

-Trước hết, về tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án cần xem đối tượng yêu cầu thi hành án đúng không? đương sự tự mình hay ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án? Đơn viết hay người yêu cầu trực tiếp trình bày bằng lời nói. Trường hợp cá nhân trực tiếp trình bày bằng lời nói cơ quan Thi hành án dân sự phải lập biên bản (nội dung biên bản giống nội dung đơn yêu cầu thi hành án) và có chữ ký của người lập biên bản. Trường hợp người được thi hành án nộp đơn trực tiếp thì ngày yêu cầu được tính từ ngày nhận đơn. Trường hợp nhận đơn qua bưu điện thì ngày yêu cầu được tính từ ngày có dấu bưu điện nơi gửi và xem cơ quan thi hành án dân sự đã thông báo bằng văn bản cho đương sự biết không?

- Kiểm sát viên kiểm sát nội dung đơn yêu cầu thi hành án đúng nội dung bản án, quyết định Tòa án tuyên không?

- Nếu không có căn cứ Cơ quan thi hành án dân sự từ chối đơn yêu cầu thi hành án đảm bảo pháp luật không? Đó là: thời hạn ban hành văn bản từ chối (05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn); căn cứ từ chối? (Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự; cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án; Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án).

- Sau khi nhận đơn đủ điều kiện thụ lý, Cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đúng thời hạn, nội dung đơn yêu cầu thi hành và đúng căn cứ đúng pháp luật không?

5.2. Kiểm sát việc xác minh, tự xác minh điều kiện thi hành án của VKS:

- Kiểm sát xác minh của cơ quan thi hành án dân sự:

+ Kiểm sát thời hạn xác minh điều kiện thi hành án của Chấp hành viên: 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành Chấp hành viên tiến hành xác minh. Trường hợp đương sự chưa có điều kiện thi hành ít nhất 06 tháng một lần Chấp hành viên xác minh, riêng người phải thi hành án đang chấp hành án phạt tù từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú thì ít nhất một năm xác minh một lần (xác minh tại nơi có tài sản, nơi đương sự cư trú và tại Trại giam nếu đương sự chấp hành án phạt tù).

+ Cách thức xác minh: Chấp hành viên trực tiếp xác minh hoặc có thể ủy quyền cho Cơ quan thi hành án dân sự nơi có thông tin về tài sản, nơi cư trú, nơi làm việc, trụ sở của người phải thi hành án hoặc các thông tin khác liên quan đến việc thi hành án.

+ Nội dung biên bản xác minh phản ánh đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án: ghi rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Chấp hành viên phải nêu rõ trong biên bản xác minh điều kiện thi hành án về việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án.

- Viện kiểm sát nhân dân xác minh:

Cách thức xác minh: Viện kiểm sát phối hợp với Công an phường, xã hoặc Ủy ban nhân dân phường, xã, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn tại nơi người phải thi hành án cư trú, có tài sản, trực tiếp đến gia đình người phải thi hành án xác minh điều kiện tài sản, thu nhập của người phải thi hành án và gia đình xem xét xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành hay không. Quá trình xác minh Kiểm sát viên lập biên bản làm việc với các gia đình liền kề, khối phố trưởng hoặc trưởng thôn xem xét nội dung cung cấp điều kiện tài sản, thu nhập, công việc của gia đình người phải thi hành án và người phải thi hành án đúng thực tế không?

- Biên bản xác minh hay biên bản làm việc phản ánh đúng nội dung thực tế, khách quan về tài sản, công việc, thu nhập của người phải thi hành án đồng thời kết luận người phải thi hành án có điều kiện hay chưa có điều kiện thi hành án để báo cáo Lãnh đạo Viện cho ý kiến chỉ đạo.

6. Kiểm sát hoạt động cưỡng chế thi hành án:

- Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế

Để áp dụng được biện pháp cưỡng chế thi hành án, cần phải hội đủ các điều kiện sau đây: Người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án theo quy định tại khoản 2 điều 9 Luật thi hành án dân sự.

- Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Cưỡng chế thi hành án dân sự là một biện pháp nghiêm khắc nhất, do đó, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án không được áp dụng một cách tùy tiện mà phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc đó là:

+ Chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định, bao gồm: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Khai thác tài sản của người phải thi hành án. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

+ Chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Ngoài ra, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án.

+ Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào bản án, quyết định và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Vì việc tổ chức cưỡng chế thi hành án có thuận lợi hay không, an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bản xảy ra việc cưỡng chế hay không tùy thuộc vào việc có áp dụng thống nhất nguyên tắc này trên thực tế của Chấp hành viên.

- Căn cứ cưỡng chế thi hành án

Theo Luật THADS năm 2014 quy định Chương IV, từ Điều 70 đến Điều 121. Ngoài ra, việc cưỡng chế thi hành án còn được quy định cụ thể hơn trong Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ từ Điều 21 đến Điều 31.

- Khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát các nội dung cơ bản sau đây:

+ Thẩm quyền, căn cứ, đối tượng, thời hạn, thủ tục áp dụng đối với từng biện pháp cưỡng chế; việc lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án trong trường hợp cần huy động lực lượng;

+ Việc dự toán, tạm ứng, thanh toán, miễn giảm chi phí cưỡng chế THA;

+ Việc bảo quản tài sản thi hành án; việc xác định, phân chia, xử lý tài sản chung, tài sản có tranh chấp để thi hành án;

+ Việc tổ chức thẩm định giá, bán tài sản;

+ Việc thu, quản lý tiền thi hành án; trả tài sản và thu phí thi hành án; mức phí, thủ tục thu, nộp, miễn, giảm phí thi hành án; những trường hợp không phải chịu phí thi hành án; việc thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án.

- Hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án có thể thông qua biện pháp cử Kiểm sát viên trực tiếp tham gia và kiểm sát việc cưỡng chế hoặc kiểm sát hồ sơ, tài liệu việc thi hành án có cưỡng chế.

Khi tham gia và trực tiếp kiểm sát việc cưỡng chế, Kiểm sát viên nghiên cứu trước các tài liệu thi hành án có liên quan đến việc cưỡng chế, nếu phát hiện có vi phạm trong việc tổ chức cưỡng chế thể hiện trong tài liệu thi hành án thì báo cáo Lãnh đạo viện để yêu cầu hoặc kiến nghị, kháng nghị khắc phục; nếu phát hiện vi phạm tại nơi tổ chức cưỡng chế thì có quan điểm yêu cầu Cơ quan thi hành án khắc phục, sau đó báo cáo Lãnh đạo viện.

Khi cần thiết kiểm sát hoạt động thẩm định giá hoặc bán đấu giá tài sản, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá hoặc Cơ quan thi hành án dân sự cung cấp hồ sơ việc thi hành án hoặc hồ sơ thẩm định giá, hồ sơ bán đấu giá để kiểm sát.

* Qua nghiên cứu 03 việc cưỡng chế đất đai, nhà ở trong năm 2016 thấy: cả 03 hồ sơ cưỡng chế đều có những vi phạm nghiêm trọng, gây khiếu kiện, khiếu nại kéo dài, chúng tôi sẽ đi sâu nêu một số giải pháp để hoạt động kiểm sát cưỡng chế nhà và đất ở. Cụ thể:

-Trước hết đối với tài sản là đất ở, khi kê biên quyền sử dụng đất Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự. Khi kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất. Việc kê biên quyền sử dụng đất phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên.

- Kê biên tài sản là nhà ở, Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà. Trường hợp họ từ chối nhận tài sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản. Trường hợp người phải thi hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung trên.

Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày thông báo mà người có tài sản bảo quản không đến nhận tài sản đó mà không có lý do chính đáng thì Chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự.

- Nếu trong quá trình kê biên đất và nhà, các bên đương sự thỏa thuận sẽ kê biên các tài sản khác trong nhà hoặc kê biên thêm phần đất mà Cơ quan thi hành án trước đó chưa ra quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên ghi nhận sự thỏa thuận của các bên (có chữ ký xác nhận của những người sở hữu tài sản, chấp hành viên và người làm chứng) đồng thời ra quyết định cưỡng chế tài sản các bên đương sự vừa thỏa thuận. Tránh không lập biên bản, không có chữ ký của người sở hữu tài sản, không ra quyết định cưỡng chế tài sản các bên đương sự vừa thỏa thuận dẫn đến các bên đương sự khiếu kiện như việc cưỡng chế nhà, tài sản của Công ty cổ phần vận tải và thương mại Đức Huy.

- Ví dụ: Qúa trình cưỡng chế, kê biên tài sản của Công ty thương mại Đức Huy, thị xã Hồng Lĩnh có một số tài sản là tài sản chung của vợ chồng ông Phan Công Hiền và bà Nguyễn Thị Thuý Hằng (các tài sản ngoài Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự của Toà án, Quyết định cưỡng chế) nhưng bà Hằng không có thành phần tham gia và không có chữ ký của của bà Hằng; Chấp hành viên không lập biên bản khi người phải thi hành án đề nghị kê biên một số tài sản khác và giải thích cho đương sự về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đối với việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án, do đó việc giao tài sản đấu giá thành không thực hiện được.

- Sau khi kê biên tài sản Chấp hành viên lựa chọn một trong các hình thức sau đây để bảo quản tài sản kê biên: Giao cho người bị cưỡng chế, thân nhân của người bị cưỡng chế hoặc người đang quản lý, sử dụng tài sản đó bảo quản; hoặc giao cho một trong những đồng sở hữu chung bảo quản nếu tài sản đó thuộc sở hữu chung; hoặc giao cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản.

+ Đối với tài sản là vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ thì tạm giao cho Kho bạc Nhà nước quản lý; đối với các tài sản như vật liệu nổ công nghiệp, công cụ hỗ trợ, vật có giá trị lịch sử, văn hóa, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâm sản quý hiếm thì tạm giao cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành để quản lý.

+ Khi giao bảo quản tài sản kê biên, người chủ trì thực hiện kê biên phải lập biên bản. Trong biên bản ghi rõ: Thời gian bàn giao bảo quản; họ và tên người chủ trì thực hiện quyết định cưỡng chế, cá nhân, đại diện tổ chức bị cưỡng chế, người được giao bảo quản tài sản, người chứng kiến việc bàn giao; số lượng, tình trạng (chất lượng) tài sản; quyền và nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản.

Người chủ trì thực hiện kê biên, người được giao bảo quản tài sản, cá nhân, đại diện tổ chức bị cưỡng chế, người chứng kiến ký tên vào biên bản. Biên bản có nhiều tờ thì phải ký vào từng tờ biên bản. Trong trường hợp có người vắng mặt hoặc có mặt mà từ chối ký biên bản thì việc đó phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.Biên bản được giao cho người được giao bảo quản tài sản, cá nhân, đại diện tổ chức bị cưỡng chế, người chứng kiến và người chủ trì thực hiện kê biên mỗi người giữ 01 bản.

+ Người được giao bảo quản tài sản được thanh toán chi phí thực tế, hợp lý để bảo quản tài sản, trừ giao cho người bị cưỡng chế, thân nhân của người bị cưỡng chế hoặc người đang quản lý, sử dụng tài sản đó bảo quản;

+ Người được giao bảo quản tài sản gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất hoặc hủy hoại tài sản thì phải chịu trách nhiệm bồi thường và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp tài sản bị mất Chấp hành viên cần tổ chức thành lập Hội đồng định giá các loại tài sản bị mất.

- Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành

án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên có bước khảo sát giá thuê nhà trung bình tại địa phương và trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Tránh việc tùy tiện trích lại tiền để hỗ trợ tiền thuê nhà cho người phải thi hành án không đúng quy định pháp luật ảnh hưởng đến tài sản của người phải thi hành án như Chi cục THADS huyện Hương Khê.

-  Thông báo bán đấu giá tài sản phải được niêm yết tại nơi bán đấu giá, nơi có bất động sản bán đấu giá và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có bất động sản bán đấu giá chậm nhất là 30 ngày trước ngày mở cuộc bán đấu giá, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đối với tài sản thuộc sở hữu cá nhân, tổ chức, thời hạn niêm yết việc bán đấu giá tài sản có thể được rút ngắn theo thỏa thuận của các bên.

Riêng tài sản bán đấu giá là bất động sản, kho niêm yết tại nơi có bất động sản thì tổ chức bán đấu giá tài sản lưu tài liệu, hình ảnh về việc niêm yết trong hồ sơ hoặc lập văn bản có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có bất động sản bán đấu giá về việc đã niêm yết, thông báo công khai.

Quá trình đấu giá tài sản, Công ty trách nhiệm hữu hạn bán đấu giá tài sản số 1 Hà Tĩnh không thực hiện việc niêm yết thông báo bán đấu giá tài sản tại nơi có bất động sản là khách sạn ASEAN, địa chỉ số 30, đường Trần Phú, phường Bắc Hồng, thị xã Hồng Lĩnh là chưa đúng quy định pháp luật, dẫn đến khiếu nại kéo dài bán đấu giá thành không giao được tài sản cho người trúng đấu giá.

- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê đã không nghiên cứu kỹ các quy định về chi trả chi phí bán đấu giá về tài sản như Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản; Thông tư 03/2012/TT-BTC ngày 05/01/2012 của Bộ Tư pháp về Hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá, phí tham gia đấu giá và lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá tài sản; Quyết định số 42/2012/QĐ-UBND ngày 09/8/2012 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc quy định bổ sung, điều chính mức thu giá dịch vụ khám, chữa bệnh trong các cơ sở khám, chữa bệnh của nhà nước; một số loại phí, lệ phí khác áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để thu phí cho đúng quy định pháp luật nên Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê đã chi trả cho Trung tâm bán đấu giá tài sản vượt quá mức quy định là 16.026.000 đồng.

- Cơ quan thi hành án dân sự huyện Hương Khê tự ý trích 2% tiền thuế thu nhập cá nhân qua việc bán đấu giá nhà, đất của ông Khả, bà Oanh ở thị trấn Hương Khê là 36,8 triệu là không đúng quy định của pháp luật. Lẽ ra, Chấp hành viên phải làm việc trực tiếp với Chi cục thuế Hương Khê để xác định trường hợp ông Khả có phải nộp thuế thu nhập không, mặt khác Chấp hành viên không nghiên cứu kỹ điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân; điểm a khoản 2 điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính Phủ nên gây thiệt hại tài sản cho cơ quan được thi hành.

- Đối với việc ông Trần Văn Thiện, Trần Thị Mai, Trần Thị Tĩnh phải thi hành cho người được thi hành án Trần Văn Lương, Trần Văn Mạnh, Cơ quan thi hành án dân sự chứng kiến các đương sự thỏa thuận tự giao tài sản cho nhau nên Chấp hành viên ra quyết định thu phí thi hành án lẽ ra với mức thu 1/3% của mức 3% số tiền, tài sản giá trị thực nhận mới đảm bảo quy định pháp luật (chứ không phải mức 3%).

Khi kiểm sát hoạt động cưỡng chế thi hành án, kiểm sát viên phải nắm chắc quy định pháp luật và yêu cầu Chấp hành viên thực hiện đúng và đầy đủ các nguyên tắc trong cưỡng chế thi hành án dân sự, đảm bảo trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án, đồng thời, phải luôn nâng cao ý thức bảo đảm cho việc cưỡng chế thi hành án dân sự được an toàn, hiệu quả trong quá trình tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự trên thực tế./.

PHÒNG KIỂM SÁT TH I HÀNH ÁN DÂN SỰ

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP