Chuyên đề :Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác Thống kê và Công nghệ thông tin năm 2017.
10:07 13/03/2017

​​

CHUYÊN ĐỀ

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác Thống kê

và Công nghệ thông tin năm 2017.

I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC THỐNG KÊ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NĂM 2016.

1. Về công tác thống kê nghiệp vụ.

Năm 2016, Viện kiểm sát hai cấp đã có nhiều biện pháp tăng cường công tác thu thập, tổng hợp, rà soát, đối chiếu số liệu để xây dựng báo cáo thống kê. Về cơ bản, các đơn vị thuộc Viện kiểm sát hai cấp đã có nhiều cố gắng xây dựng đầy đủ các loại báo cáo thống kê; báo cáo cáo thống kê số liệu ít sai sót; đã chủ động truyền gửi đầy đủ về Viện kiểm sát tỉnh theo đúng quy định.  Một số đơn vị làm tốt như : VKS Hồng ĩnh, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Thành phố Hà Tĩnh, thị xã Kỳ Anh, Phòng 7, Phòng 9, Phòng 11…

Bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng các báo cáo thống kê còn có nhiều sai sót. Trong năm 2016, sai sót của các kỳ thống kê có ở tất cả tất cả 13 đơn vị cấp huyện và 2 phòng nghiệp vụ làm án sơ thẩm; sai sót số liệu xảy ra ở biểu mẫu thống kê các khâu công tác kiểm sát.

Các sai sót số liệu thống kê, chậm báo cáo số liệu thống kê; sự thiếu phối hợp của cán bộ làm công tác thống kê của VKS hai cấp đã làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng báo cáo thống kê của toàn ngành. Một số tồn tại, hạn chế cụ thể như sau :

1.1 . Báo cáo sai số liệu .

a. Sai số liệu do không nắm vững tiến độ giải quyết ở các khâu nghiệp vụ .

Các đơn vị thường thống kê sai số liệu ở tất cả các biểu của các khâu công tác kiểm sát. Sở dĩ, Phòng Thống kê phát hiện báo cáo thống kê sai, vì qua công tác đối chiếu số liệu qua danh sách án hình sự, đối chiếu với Phòng nghiệp vụ và Văn phòng. Kết quả đối chiếu cho thấy số liệu báo cáo thống kê của các đơn vị khác với số liệu phòng nghiệp vụ và Văn phòng quản lý. Các số liệu thường chênh lệch, gồm:

- Số án hình sự, dân sự, số người bị tạm giữ tạm giam, số bị án phạt tù treo, số việc thi hành án dân sự kỳ thống kê trước chuyển sang;

- Số án hình sự, dân sự, số vụ việc đình chỉ, tạm đình chỉ;

- Số án hình sự, dân sự chuyển đi, chuyển đến; số vụ việc thi hành án dân sự ủy thác thi hành án;

- Số án hình sự trả hồ sơ điều tra bổ sung, số án hủy điều tra lại, số vụ án tách, nhập;

- Số án hình sự trọng điểm; số vụ án xét xử lưu động; số phiên tòa rút kinh nghiệm; số bản kháng nghị, số bản kiến nghị, số yêu cầu…

b. Sai số liệu do không đối chiếu, thống nhất với phòng nghiệp vụ :

- Trong năm 2016, nhiều đơn vị cấp huyện báo cáo thống kê gửi về Phòng thống kê sai số liệu là do không đối chiếu thống nhất số liệu với Phòng nghiệp vụ; tập trung ở các khâu dân sự, tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, khiếu tố.

Đáng chú ý là khâu công tác kiểm sát thi hành án dân sự, sau khi Viện KSND tối cao và Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 06 ngày 31/05/2016 về thống kê thi hành án dân sự, Phòng Thống kê đã thống nhất với Phòng 11 về việc, Phòng 11 chịu trách nhiệm chỉ đạo VKS cấp huyện điều chinhr số liệu về thi hành án dân sự của VKS cấp huyện để đảm bảo thống nhất số liệu giữa thống kê nghiệp vụ ( gửi Phòng Thống kê)và thống kê liên ngành (gửi Phòng nghiệp vụ). Đến nay đã thực hiện được hơn 6 tháng nhưng số liệu giữa 2 loại thống kê của VKS cấp huyện vẫn chênh lệch nhau, mặc dù Phòng nghiệp vụ đã tích cực chỉ đạo, kiểm tra đối soát số liệu.

c . Sai số liệu do thiếu kiểm tra, đối soát.

Trong 1 số trường hợp, sai số liệu là do cẩu thả, thiếu kiểm tra của cán bộ thống kê trong việc nhập số liệu vào phần mềm, số liệu của dòng này nhưng nhập sang dong khác, dẫn đến mâu thuẫn số liệu, phần mềm thống kê báo lỗi nhưng không kiểm tra để sửa chữa; một số trường hợp khác, phần mềm không có công thức kiểm tra, cán bộ thống kê không kiểm tra bằng phương pháp thủ công dẫn đến sai số liệu.

1.2 . Báo cáo sót số liệu .

a. Trong năm 2016, có nhiều đơn vị báo cáo sót số liệu thống kê, trong đó có những số liệu hết sức quan trọng như số vụ án hình sự, dân sự thụ lý giải quyết trong kỳ thống kê. Các số liệu thường hay sót ( không đưa vào thống kê), gồm :

- Số vụ, việc phục hồi giải quyết

- Số án đình chỉ, tạm đình chỉ, số án hình sự trọng điểm; số vụ án xét xử lưu động; số phiên tòa rút kinh nghiệm; số bản kháng nghị, số bản kiến nghị, số yêu cầu… ( do cán bộ thống kê không nắm vững số liệu hoặc do cán bộ nghiệp vụ không báo cáo)

- Số vụ án hình sự, dân sự đã thụ lý nhưng đang có sự phân định ( tranh chấp) về thẩm quyền giải quyết .

b . Một số trường hợp cụ thể :

- Án hình sự đã giải quyết trong tháng 7/2016 (  bản án đã có hiệu lực pháp luật) nhưng không đưa vào báo cáo thống kê năm 2016.

- Án hình sự, dân sự của cấp huyện chuyển cấp tỉnh giải quyết theo thẩm quyền, mặc dù huyện đã có quyết định chuyển nhưng tỉnh chưa nhận và chưa đưa vào quản lý theo dõi, thống kê, nhưng VKS cấp huyện không liên lạc đối chiếu với Phòng nghiệp vu, mà từ ý giảm trừ số liệu này trong báo cáo của minh, dẫn đén tình trạng bị mất số liệu giải quyết án, vì Phòng nghiệp vụ chưa thụ lý, nên chưa đưa vào thống kê.

- Có 1 trường hợp, vụ án có nhiều bị can, quá trình điều tra có 1 bị can bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách bị can và tạm đình chỉ điều tra đối với bị can này, còn các bị can khác thì kết thúc điều tra đề nghị truy tố. Do không nắm vững số liệu, nên cán bộ thống kê vẫn thống kê bị can tạm đình chỉ này đã kết thúc điều tra. Gần 2 tháng sau, vụ án đang ở giai đoạn xét xử thì mới đề nghị Phòng Thống kê sửa chữa số liệu.

1.3 . Mâu thuẫn số liệu giữa các biểu thống kê ; giữa các báo cáo thống kê .

Trong các kỳ thống kê nghiệp vụ, một số đơn vị còn để xảy ra tình trạng số liệu không thống nhất giữa các biều thống kê. Cụ thể như :

a. Giữa các biểu thống kê nghiệp vụ.

- Số tin báo tội phạm đã khởi tố và không khởi tố hình sự sở biểu 1 không trùng khớp với số vụ án khởi tố hình sự, không khởi tố hình sự của biểu 2;

- Số người bị bắt trong kỳ thống kê ( dòng 26,27,28,31 ) ở biểu 2 không trùng khớp với số liệu ở biểu 7 (dòng 2- số người bị tạm giữ);

- Số khởi tố mới, số mới truy tố, số mới xét xử sơ thẩm ở biểu 2 không trùng khớp với số khởi tố, truy tố, xét xử ở biểu 4.

- Số việc thi hành án dân sự mới thụ lý ( dòng 2 biểu 20) không trùng khớp với số quyết định thi hành án dân sự đã tiến hành kiểm sát ( dòng 42 biểu 20).

b . Giữa các báo cáo thống kê .

- Số bị cáo đã xét xử sơ thẩm ( ở biểu 2 – thống kê nghiệp vụ) chênh lệch với số phiếu và số liệu thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm .

- Số kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu ở thống kê nghiệp vụ chênh lệch với số kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Thống kê vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

1.4 . Sai sót trong truyền, gửi báo cáo thống kê .

- Truyền không đủ biểu thống kê theo quy định.

- Không kiểm tra hết lỗi lôgic nên khi nhận số liệu ở VKS tỉnh, phần mềm báo lỗi, gây khó khăn cho việc tổng hợp, kiểm tra số liệu của Phòng Thống kê.

1.5 . Phân công bố trí cán bộ thiếu tính ổn định; cán bộ chưa có kinh nghiệm về nghiệp vụ kiểm sát làm ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo thống kê .

Năm 2016, nhiều đơn vị phân công, bố trí cán bộ làm công tác thống kê không ổn định; lãnh đạo các đơn vị thường phân công cán bộ trẻ, chưa có kinh nghiệm trong hoạt động nghiệp vụ trực tiếp làm công tác thống kê, dẫn đến việc báo cáo thống kê sai sót số liệu ở nhiều kỳ thống kê, có những sai, sót kéo dài, mang tính phổ biến.

- Một số đồng chí cán bộ thống kê chưa tích cực nêu cao tinh thần trách nhiệm trong xây dựng báo cáo thống kê; chưa phối hợp chặt chẽ với cán bộ thống kê của Phòng thống kê và cán bộ thống kê của Phòng nghiệp vụ khi điều chỉnh số liệu thống kê do có sai sót số liệu trong báo cáo của các đơn vị.

2. Về nhập án vào phần mềm quản lý và thống kê án hình sự và phần mềm thống kê và quản lý án dân dự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật ( gọi tắt là phần mềm quản lý án hình sự, dân sự).

a . Năm 2016, các đơn vị thuộc Viện kiểm sát hai cấp đã thực hiện cơ bản tốt việc nhập án vào phần mềm quản lý án hình sự, án dân sự. Nhiều đơn vị đã bám sát tiến độ giải quyết án hình sự, dân sự để cập nhật thông tin vào phần mềm, đạt tỷ lệ 100% ở các giai đoạn tố tụng.

Bên cạnh đó còn có 1 số tồn tại hạn chế cần phải khắc phục, cụ thể như sau :

b . Tồn tại, hạn chế .

- Tiến độ nhập án vào phần mềm quản lý án hình sự, án dân sự còn chậm so với quy định :

Năm 2016, không có đơn vị nào thuộc Viện kiểm sát hai cấp đạt tỷ lệ nhập án 100% vào phần mềm trong kỳ thống kê ở các giai đoạn tố tụng. Một số đơn vị, trong tháng tỷ lệ nhập án ở giai đoạn điều tra đạt 100%, nhưng truy tố, xét xử chỉ đạt 70-80%, thậm chí có đơn vị tiến độ nhập án rất chậm, Phòng đã nhắc nhở nhiêu lần, đồng chí Viện trưởng VKS tỉnh đã nhiều lần trực tiếp chỉ đạo tại các hội nghị giao ban tuần trực tuyến, nhưng chuyển biến rất chậm. Một số vụ án không chuyển lên Viện kiểm sát cấp trên để nhập thông tin theo quy định  nên bị thông báo nhắc nhở.

- Chất lượng nhập thông tin các vụ án vào phần mềm quản lý án hình sự, dân sự còn nhiều hạn chế .

Trong tháng 7 năm 2016, Phòng thống kê đã có thông báo cụ thể chất lượng nhập án của các đơn vị vào phần mềm quản lý án hình sự, trong đó trừ Phòng 7, còn lại các đơn vị khác thuộc 2 cấp đều nhập thiếu thông tin trong từng vụ án vào phần mềm. Nhều đơn vị chỉ nhập được các thông tin về quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, Kết luận điều tra vụ án hình sự, cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án của Tòa án ( thông tin chỉ giới hạn ở mức số, ngày tháng văn bản, tên văn bản).

Một số thông tin phần mềm yêu cầu cập nhật nhưng không thực hiện : tên vụ án, loại tội phạm, số bị can, bị cáo; các quyết định tố tụng ở các giai đoạn tố tụng ( lệnh bắt, lệnh tạm giữ, tạm giam, các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, các quyết định tố tụng khác trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử); nhân thân bị can bị cáo, động cơ mục đích, vật chứng; nội dung cơ bản của Kết luận điều tra, Cáo trạng; quan điểm đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo của Viện kiểm sát và mức hình phạt Tòa án tuyên…

Do nhập không đầy đủ thông tin vụ án vào phần mềm đã gây ảnh hưởng đến việc khai thác các tiện ích của phần mềm để phục vụ công tác quản lý, điều hành. Đây là mục đích cuối cùng mà Viện KS tối cao đặt ra khi xây dựng phần mềm, qua đó từng bước thay thế dần các biểu thống kê nghiệp vụ về hình sự, dân sự.

- Cấp sơ thẩm không chuyển án cho cấp phúc thẩm nên gây khó khăn trong việc nhập án ở cấp phúc thẩm .

Trong 6 tháng đầu năm 2016, một số đơn vị VKS cấp huyện không thực hiện thao tác chuyển các vụ án hình sự, dân sự sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị lên các phòng 7, 9, 10 để thực hiện việc nhập án ở giai đoạn cấp phúc thẩm. Phòng nghiệp vụ không chuyển án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị cho Viện kiểm sát cấp cao để nhập án ở giai đoạn phúc thẩm.  Một số vụ án, VKS cấp huyện đã chuyển án cho phòng nghiệp vụ nhưng quá trình nhập án không đầy đủ, khi có ý kiến chỉ đạo của Phòng Thống kê thì lúng túng trong việc bổ sung thông tin, vì án đang ở giai đoạn phúc thẩm nên mất quyền bổ sung thông tin.

- Chưa nhập thông tin vào phần“Thi hành án” của phần mềm quản lý án hình sự .

Theo yêu cầu của phần mềm, đối với các vụ án đã xét xử và án đã có hiệu lực pháp luật, thì cấp sơ thẩm có trách nhiệm nhập thông tin vào phần Thi hành án. Thông tin chủ yếu là quyết định thi hành án và các quyết định khác nếu có. Đến nay chưa có đơn vị nào thực hiện. Đáng chú ý:

- Phòng nghiệp vụ chưa chuyển án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật về cho cấp sơ thẩm để tiếp tục nhập thông tin về phần kiểm sát thi hành án;

- Phòng 1, 2 và Phòng 8 chưa phối hợp để nhập thông tin phần thi hành án đối với các vụ án sơ thẩm do cấp tỉnh xét xử và Tòa án tỉnh ra quyết định thi hành án.

3. Về đảm bảo kỹ thuật phục vụ Hội nghị truyền hình trực tuyến .

3.1. Năm 2016, Phòng Thống kê và Viện kiểm sát cấp huyện đã phối hợp để đảm bảo kỹ thuật cho các hội nghị truyền hình trục tuyến của 4 cấp, trong đó: phục vụ 14 hội nghị do Viện kiểm sát tối cao tổ chức; 49 Hội nghị giao ban tuần, giao ban quý, sơ kết 6 tháng, tổng kết năm do Viện kiểm sát tỉnh tổ chức. Về cơ bản, các đơn vị đã duy trì tốt đường truyền INTERNET băng thông rộng, tốc độ cao trên 16Mbps, sử dụng phần mềm Vmeet có máy chủ tại VKS tối cao, chất lượng âm thanh hình ảnh tương đối tốt; cán bộ được phân công phụ tách đã tích cực tìm tòi, học hỏi để ngày càng làm tốt hơn việc duy trì, vận hành có hiệu quả các thiết bị phục vụ hội nghị trực tuyến.

3.2. Bên cạnh đó còn có 1 số tồn tại, hạn chế như :

- Thiết bị CNTT đảm bảo hội nghị trực tuyến chưa đồng bộ, dẫn dến chất lượng âm thanh, hình ảnh chưa dảm bảo.

Năm 2015, theo chủ trương của Viện KSND tối cao, các đơn vị cấp huyện được trang bị Camera và các thiết bị kết nối để phục vụ Hội nghị trực tuyến. Các thiết bị khác như âm ly, microo, màn hình, máy vi tính do đơn vị tự túc. Từ đó đến nay, nhiều đơn vị đã từng bước chuẩn hóa các thiết bị  về CNTT để phục vụ hội nghị trực tuyên như : Trang bị màn hình ty vi, aamly thế hệ mới, máy tính chuyên biệt, có cấu hình cao ( nhiều dơn vị sử dụng máy tính để bàn); trang bị hệ thống lao tốt; dùng miccro có dây dể chống tạp âm…

Tuy nhiên nhìn chung thiết bị chưa đồng bộ, nhiều đơn vị còn dùng máy chiếu, amly cũ, dùng máy tính xách tay, dung micro không dây… đã làm ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh, hình ảnh trong các hội nghị.

- Do không được đào tạo, bồi dưỡng để vận hành thiết bị, do vậy 1 số ít cán bộ của các đơn vị chưa làm tốt việc khởi động thiết bị, bảo quản thiết bị camera và các thiết bị khác trong điều kiện thời tiết nóng ẩm; việc cài đặt phần mềm Vmeet có đơn vị bị lỗi, chậm khắc phục , đã làm ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh, hình ảnh hội nghị.

- Trách nhiệm 1 số đồng chí cán bộ được phân công phụ trách kỹ thuật các Hội nghị trực tuyến chưa cao, chưa làm hết trách nhiệm của mình. Theo quy định của VKS tỉnh, khi tổ chức Hội nghị trực tuyến ( kể cả giao ban, sơ kết, tổng kết) ngoài việc kiểm tra tín hiệu đường truyền, thiết bị âm thanh, hình ảnh của ngày hôm trước, thì trước khi hội nghị diễn ra, cán bộ kỹ thuật của cấp huyện phải có mặt trước 1 giờ ( 6h30 sáng) để kiểm tra tín hiệu lần cuối trước khi tổ chức hội nghị. Tuy nhiên nhiều đơn vị, dến gần giờ khai mạc, cán bộ kỹ thuật mới mở máy, thời gian khởi động chiếm mất thời gian kiểm tra tín hiệu, do vậy làm ảnh hưởng chung đến việc đảm bảo kỹ thuật cho Hội nghị.

4. Về sử dụng các phần mềm quản lý điều hành và hộp thư điện tử .

Hiện nay, Viện kiểm sát hai cấp đang sử dụng 2 phần mềm phục vụ công tác quản lý, điều hành, gồm :

- Phần mềm gửi nhận văn bản của UBND tỉnh;

- Phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc.

4.1. Đối với phần mềm gửi nhận văn bản , UBND tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị thuộc cấp tỉnh, cấp huyện gửi nhận văn bản hành chính qua hộp thư này; văn bản gửi qua phần mềm đã được sử dụng chữ ký số hóa; năm 2016 Viện KS tỉnh đã đăng ký chữ ký số của đồng chí Viện trưởng VKS tỉnh.

Đây là phần mềm có nhiều tiện ích, giúp cho Viện KSND hai cấp gửi và nhận các văn bản ngoài ngành, đồng thời tiếp cận nhanh các thông tin thông qua các văn bản được đăng tải để phục vụ cho công tác điều hành. Tuy nhiên qua theo dõi, chúng ta chưa sử dụng được nhiều tiện ích của phần mềm; ở Văn phòng VKS tỉnh chủ yếu mới dừng lại ở việc nhận các văn bản của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các sở ban ngành có liên quan đến việc thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng và việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngành .

4.2 . Đối với phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc . Đây là phần mềm quản lý quy trình xử lý các công việc trong cơ quan VKS tỉnh và VKS cấp huyện. Quy trình xử lý bắt đầu từ khi văn tư tiếp nhận văn bản, chuyển lãnh đạo Viện xử lý chuyển đơn vị cấp Phòng; phòng phân công cán bộ thực hiện, sau đó trình văn bản cho lãnh đạo cấp phòng. Tùy thẩm quyền ký văn bản mà lãnh đạo phòng duyệt văn bản hoặc lãnh đạo Viện duyệt ký văn bản, sau đó chuyển văn thư dăng ký số và ban hành. Phần mềm này đã được Trung tâm công báo và tin học Hà Tĩnh ( đơn vị xây dựng phần mềm) trực tiếp hướng dẫn cho VKS hai cấp và mỗi 1 cán bộ công chức được cung cấp 01 địa chỉ để truy cập vào phần mêm. Theo quy định mỗi ngày làm việc, cán bộ công chức đăng nhập hệ thống nhằm kiểm tra thông tin chuyển cho mình để có biện pháp xử lý.

Mặc dù đã triển khai hơn 1 năm, nhưng việc ứng dụng phần mềm chỉ mới dừng lại ở mức : VP cơ quan VKS tỉnh Scan các văn bản đến, văn bản đi gửi các đơn vị cấp phòng, cấp huyện.

4.3. Việc sử dụng hộp thư điện tử .

Trong những năm gần đây, Viện kiểm sát hai cấp đã sử dụng có hiệu quả hộp thư điện tử do UBND tỉnh cung cấp. Thông tin nhiều chiều được phản ánh kịp thời qua hệ thống hộp thư này, qua đó phục vụ có hiệu quả công tác quản lý, điều hành và thực hiện nhiệm vụ được phân công của cán bộ, kiểm sát viên VKS hai cấp. Thời gian tới đề nghị VKS hai cấp pháp huy tính tiện ích của phần mềm, đồng thời lưu ý :

- Khi gửi văn bản qua hộp thư, chú ý tính mật của văn bản theo quy định của ngành ( văn bản mật, tuyệt mật, tối mật không gửi qua hộp thư ).

- Kiểm tra, rà soát và xóa bớt các thư điện tử của các năm trước không còn sử dụng nữa, dể tránh đầy hộp thư, gây ra lỗi trong việc nhận văn bản.

5. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong xây dựng báo cáo thống kê và nhập thông tin vào phần mềm quản lý án hình sự, dân sự :

Qua công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, Phòng xác định việc còn để xảy ra những tồn tại, hạn chế là do một số nguyên nhân sau đây :

5.1. Lãnh đạo các đơn vị thuộc Viện kiểm sát hai cấp chưa thực sự quan tâm đến công tác thống kê . Thể hiện ở các mặt :

- Việc phân công, bố trí cán bộ chưa hợp lý, phổ biến là phân công cán bộ trẻ, chưa có kinh nghiệm làm công tác thống kê; thường xuyên thay đổi cán bộ làm công tác thống kê; chấp hành chưa nghiêm ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện KSND tỉnh về việc Kiểm sát viên thụ lý vụ án phải trực tiếp nhập thông tin vào phần mềm quản lý án hình sự, dân sự; chưa quan tâm chỉ đạo việc thực hiện các phần mềm ứng dụng phục vụ công tác quản lý điều hành mà VKS tỉnh đã triển khai.

- Lãnh đạo đơn vị thiếu kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng báo cáo thống kê; không kiểm tra kỹ số liệu trong báo cáo thống kê trước khi ký ban hành, dẫn đến  số liệu sai sót, mâu thuẫn nhưng không nắm được.

- Chưa có chính sách cán bộ đối với cán bộ làm công tác thống kê để động viên anh em có động lực thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.

3.2. Tinh thần thái độ, trách nhiệm; trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác thống kê còn hạn chế; quan hệ phối hợp giữa cán bộ thống kê với cán bộ nghiệp vụ trong việc quản lý số liệu có lúc chưa thực sự tốt . Cụ thể là :

- Một số cán bộ làm công tác thống kê không chủ động tích lũy, tổng hợp số liệu thống kê, còn có ý thức thụ động, cuối tháng chờ số liệu báo cáo của các bộ phận nghiệp vụ. Do đó không nắm đầy đủ số liệu phản ánh tiến độ giải quyết công việc ở các khâu nghiệp vụ dẫn đến thống kê sai, thống kê sót.

- Một số ít cán bộ thống kê, mặc dù là cán bộ trẻ nhưng không chịu khó học hỏi, nghiên cứu tài liệu hướng dẫn, còn qua loa, đại khái, thiếu kiểm tra số liệu trước khi tham mưu ban hành báo cáo thống kê.

Có đồng chí chưa tích cực phối hợp với Phòng Thống kê và Phòng nghiệp vụ khi kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh số liệu do sai sót, làm ảnh hưởng đến tiến độ báo cáo thống kê toàn ngành.

- Cán bộ nghiệp vụ tại các đơn vị cấp phòng, cấp huyện chưa quan tâm nhiều đến việc ứng dụng, sử dụng các tiện ích của phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho công việc của mình đang trực tiếp thực hiện.

3.2 . Phần mềm thống kê, phần mềm quản lý án hình sự bị lỗi đã làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị .

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẦN TẬP TRUNG THỰC HIỆN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THỐNG KÊ TRONG NĂM 2017 VÀ CÁC NĂM TIẾP THEO .

1. Đối với lãnh đạo các đơn vị :

- Lãnh đạo các đơn vị phải thực sự quan tâm  đến công tác thống kê và ứng dụng công nghệ thông tin; thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của đồng chí Viện trưởng về nâng cao chất lượng công tác thống kê và ứng dụng công nghệ thông tin.

- Chỉ đạo khắc phục kịp thời những tồn tại, thiếu sót mà Phòng Thống kê đã thông báo bằng văn bản qua các kỳ thống kê tháng.

-Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện thống kê; phân công bố trí cán bộ mang tính ổn định lâu dài, bố trí cán bộ có trình độ, có bản lĩnh, trách nhiệm để thực hiện công tác thống kê; có chính sách cán bộ phù hợp để động viên, khuyến khích cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ làm tốt hơn công tác này.

2. Đối với cán bộ làm công tác thống kê và công nghệ thông tin :

- Phải nghiên cứu kỹ hướng dẫn thực hiện biểu mẫu thống kê công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp ( các biểu mẫu này ban hành kèm theo Quyết định 186, 187 ngày 6/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Đối với Phần mềm quản lý án hình sự và phần mềm quản lý án dân sự, phần hướng dẫn thực hiện đã được tích hợp trong phần mềm.

- Phải nắm vững các nguyên tắc thống kê ( có 6 nguyên tắc) trong đó chú ý nguyên tắc thống kê theo tội danh, thống kê số tạm đình chỉ, thống kê chuyển đi, chuyển đến, thống kê tách, nhập vụ án, thống kê tổng số thụ lý.

- Phải có phương pháp để cập nhật số liệu, quản lý tổng hợp số liệu; kiểm tra, rà soát, đối chiếu số liệu; khắc phục tình trạng bị động, trông chờ số liệu các bộ phận nghiệp vụ cung cấp vào dịp cuối kỳ thống kê; khắc phục việc để sót, sai số liệu thống kê; phải xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với cán bộ nghiệp vụ để nắm chắc số liệu thống kê.

- Chú ý  đối chiếu, so sánh số liệu giữa các biểu thống kê nghiệp vụ tháng; giữa thống kê nghiệp vụ với thống kê vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp và thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.

- Định kỳ hàng tháng cán bộ thống kê phải thống nhất với Văn phòng về số liệu báo cáo phòng nghiệp vụ, báo cáo Văn phòng tổng hợp Viện KSND tỉnh và Phòng thống kê để khắc phục tình trạng số liệu chênh lệch ở 3 phòng cấp tỉnh.

- Phải kiểm tra, rà soát, sửa chữa lỗi trùng lặp, mâu thuẫn số liệu trong phần mềm thống kê trước khi truyền về Viện kiểm sát tỉnh. Tích cực nghiên cứu để tự cài đặt các phần mềm thống kê thường xuyên trao đổi với Phòng thống kê để cập nhật phiên bản mới ( nếu có).

- Đối với Phần mềm quản lý án hình sự, dân sự :

+ Phải thường xuyên cập nhật thông tin về tiến độ giải quyết án ở các giai đoạn tố tụng vào phần mềm; thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh về việc Kiểm sát viên thụ lý vụ án là người trực tiếp nhập thông tin vụ án vào phần mềm quản lý án hình sự, dân sự.

+ Tiếp tục nghiên cứu để cập nhật đầy đủ thông tin vụ án theo yêu cầu và hướng dẫn của phần mềm; khắc phục tình trạng chỉ nhập được các quyết định quan trọng của vụ án, các thông tin khác không nhập; chú ý án có kháng cáo kháng nghị, cấp sơ thẩm phải chuyển án, cấp phúc thẩm phải nhận án.

+ Đề nghị Phòng 7 chuyển án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật cho cấp sơ thẩm để nhập thông tin về thi hành án hình sự; Phòng 8 phối hợp với Phòng 1, 2 thực hiện nhập thông tin phần thi hành án đối với các vụ án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm.

+ Trong tháng 3/2017 phải hoàn thành việc nhập án vào phần mềm quản lý án hình sự, dân sự quý I năm 2017

3. Đối với ứng dụng công nghệ thông tin :

- Lãnh đạo và cán bộ công chức của các đơn vị phải có biện pháp để sử dụng có hiệu quả các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin hiện có, để phục vụ có hiện quả hơn công tác quản lý, điều hành và cập nhật thông tin phục vụ giải quyết các công việc được phân công.

- Sử dụng có hiệu quả hộp thư điện tử của UBND tỉnh.

- Đề nghị các đơn vị phải bố trí máy vi tính có cấu hình cao, có cài đặt phần mềm chống vi rút để thực hiện nhiệm vụ thống kê.

PHÒNG THỐNG KÊ TỘI PHẠM VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP