Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 20/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tói cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2018
14:06 03/01/2018

Ban biên tập Cổng thông tin điện tử ngành Kiểm sát Hà Tĩnh trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 20/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2018, để cán bộ, công chức, viên chức người lao động trong ngành tổ chức thực hiện và quý bạn đọc ngoài ngành biết, tham khảo.

CHỈ THỊ

Công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2018

Năm 2018, toàn Ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ thị toàn Ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục thực hiện tốt phương châm: “Đoàn kết, đổi mới - Trách nhiệm, kỷ cương - Chất lượng, hiệu quả . Trong đó, tập trung đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên; triển khai thực hiện nghiêm các đạo luật mới về tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; xây dựng Ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh. Toàn Ngành tiếp tục thực hiện các nội dung đề ra trong các Chỉ thị công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành, đồng thời tập trung thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

1. Toàn Ngành tiếp tục tập trung làm tốt nhiệm vụ chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm, chủ động đề ra nhiều giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa

1.1. Viện trưởng Viện kiểm sát, Thủ trưởng các đơn vị trong lĩnh vực hình sự tập trung chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và quản lý chặt chẽ việc giải quyết án hình sự của Viện kiểm sát các cấp, bảo đảm tuân thủ pháp luật, chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng hình sự. Kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn; nắm chắc và kiểm sát chặt chẽ tiến độ lập hồ sơ vụ án hình sự của Cơ quan điều tra; tăng cường yêu cầu kiểm tra, xác minh, yêu cầu điều tra; chủ động tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; trực tiếp hỏi cung, phúc cung bị can trước khi phê chuẩn, ban hành các quyết định tố tụng.

1.2. Nâng cao trách nhiệm, bản lĩnh của Kiểm sát viên trong thực hiện nhiệm vụ; tổ chức quán triệt và triển khai đầy đủ, kịp thời các quy định mới, nhiệm vụ mới của Ngành Kiểm sát khi các đạo luật tư pháp mới có hiệu lực thi hành. Đồng thời, tăng cường đào tạo kỹ năng cho Kiểm sát viên để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; nếu để xảy ra trường hợp Viện kiểm sát truy tố sau đó Tòa tuyên bị cáo không phạm tội hoặc bản án bị hủy để điều tra, xét xử lại có trách nhiệm của Viện kiểm sát thì cán bộ, Kiểm sát viên có liên quan phải kiểm điểm trách nhiệm và đây cũng là một trong những căn cứ xem xét khi bổ nhiệm, bổ nhiệm lại chức danh tư pháp.

Viện kiểm sát cấp tỉnh phối hợp với Tòa án tổ chức từ 02 đến 03 phiên tòa truyền hình trực tuyến đến Viện kiểm sát hai cấp để rút kinh nghiệm, ưu tiên lựa chọn các vụ án về tội phạm mới, tội phạm sử dụng công nghệ cao; tổ chức từ 01 đến 02 phiên tòa rút kinh nghiệm cho mỗi Kiểm sát viên cấp tỉnh và cấp huyện.

1.3. Phối hợp với Cơ quan điều tra, Tòa án xử lý kịp thời các vụ án hình sự nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; giải quyết dứt điểm các vụ án tồn đọng, kéo dài, bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần, hủy để điều tra lại; tích cực áp dụng các biện pháp để thu hồi tài sản trong các vụ án về tham nhũng, kinh tế. Triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 06/CT-VKSTC của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về án tạm đình chỉ. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp chủ động rà soát, kiểm tra và giải quyết kịp thời những vụ án có dấu hiệu oan sai, bỏ lọt tội phạm, các vụ án có đơn khiếu nại kêu oan và tập trung chỉ đạo xử lý việc bồi thường thiệt hại theo đúng quy định.

1.4. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thực sự là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp và tham nhũng chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp; chủ động thu thập thông tin có liên quan đến tội phạm và lựa chọn những lĩnh vực hoạt động tư pháp dễ phát sinh tội phạm để điều tra, xử lý nghiêm minh, nhằm răn đe, phòng ngừa chung góp phần xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh. Năm 2018 và những năm tiếp theo, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục triển khai Đề án “Tăng cường năng lực Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015” .

Thủ trưởng các đơn vị, Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương trong việc cung cấp thông tin, kiểm tra, xác minh, giải quyết các vụ việc trong lĩnh vực, phạm vi địa bàn phụ trách mà có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

1.5. Năm 2018, toàn Ngành xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm . Cần tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật; quán triệt, thực hiện đúng, đầy đủ thẩm quyền của Viện kiểm sát. Phân công, bố trí đủ số lượng Kiểm sát viên và cử Kiểm sát viên tham gia 100% các phiên tòa, phiên họp theo quy định; kiểm sát chặt chẽ 100% các bản án, quyết định của Tòa án. Có kế hoạch đào tạo, tập huấn kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên để nâng chất kịp thời đội ngũ Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ.

1.6. Viện kiểm sát nhân dân các cấp tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác kiến nghị, kháng nghị. Tăng cường kiến nghị xử lý, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm; chú trọng làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, những thiếu sót, sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng để kiến nghị với Đảng, Nhà nước, cơ quan hữu quan các biện pháp, giải pháp khắc phục, phòng ngừa. Tăng cường kháng nghị phúc thẩm, gắn trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh, cấp huyện trong việc kháng nghị phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bản án, quyết định bị sửa, hủy có trách nhiệm của Viện kiểm sát nhưng không được phát hiện, kháng nghị.

1.7. Tăng cường giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; chủ động, linh hoạt trong việc đề ra và tổ chức thực hiện các biện pháp; nâng tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, nhất là đơn thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; không để xảy ra trường hợp đơn hết thời hạn kháng nghị nhưng không được xem xét, giải quyết và đơn tồn đọng do lỗi chủ quan. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có trách nhiệm kịp thời phát hiện các bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai sót, vi phạm pháp luật để báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị theo thẩm quyền; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra Viện kiểm sát cấp tỉnh về công tác này.

1.8. Kiểm sát chặt chẽ việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân; không để xảy ra trường hợp quá hạn tạm giữ, tạm giam thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát; phối hợp triển khai thực hiện chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Bộ luật hình sự.

Thực hiện tốt công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, chú trọng kiểm tra các quyết định giải quyết đơn của Viện kiểm sát cấp dưới; lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện nghiêm việc tiếp công dân và tổ chức đối thoại với công dân trong các trường hợp khiếu kiện phức tạp, kéo dài. Tăng cường công tác kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính và việc cưỡng chế thi hành án.

1.9. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; tích cực thúc đẩy, đề xuất đàm phán và ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, thỏa thuận hợp tác quốc tế với các nước nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Việt Nam.

2. Tiếp tục đ ổi mới công tác tổ chức cán bộ; tăng cường kỷ cương, kỷ luật, bản lĩnh, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trong thực thi công vụ; đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu; đánh giá năng lực, trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp, Thủ trưởng đơn vị thông qua kết quả công tác của đơn vị

2.1. Năm 2018, công tác tổ chức cán bộ được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Ngành Kiểm sát nhân dân. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm gắn công tác xây dựng Đảng, xây dựng Ngành với công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên các cấp. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, huyện phải chủ động xây dựng mối quan hệ tốt với Thường trực cấp ủy trong tham mưu thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương và tăng cường quan hệ phối hợp với các cơ quan tư pháp cùng cấp. Viện trưởng, Thủ trưởng đơn vị phải đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; phải lấy công tâm, công bằng, sự gương mẫu của người đứng đầu để điều hành đơn vị; gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả các mặt công tác được giao phụ trách; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, trực tiếp kiểm tra hoạt động của Viện kiểm sát cấp dưới.

2.2. Yêu cầu công tác cán bộ phải bảo đảm chặt chẽ theo quy định của Đảng, Nhà nước và của Ngành. Chú ý phát hiện cán bộ trẻ, có năng lực để luân chuyển đào tạo trong và ngoài Ngành nhằm tạo nguồn cán bộ lãnh đạo quản lý có chất lượng cho Ngành; rà soát, mạnh dạn đưa khỏi quy hoạch những trường hợp không có khả năng phát triển hoặc sau khi quy hoạch nhưng không phát huy được. Đánh giá, phân loại đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên để đào tạo, đào tạo lại chuyên môn, nghiệp vụ; có biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực đang có; đổi mới công tác tuyển dụng cán bộ và thi tuyển chức danh tư pháp.

2.3. Tăng cường công tác luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác để đào tạo cán bộ; thực hiện điều động biệt phái Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp ở các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đến Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện để tiếp cận thực tiễn và tạo môi trường rèn luyện, thử thách để đánh giá cán bộ. Đồng thời, lựa chọn một số cán bộ có năng lực, kinh nghiệm thực tiễn ở các địa phương điều động tăng cường về Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2.4. Các đơn vị, địa phương chủ động phối hợp với Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng Kế hoạch đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, Kiểm sát viên; mở nhiều lớp bồi dưỡng chuyên sâu kỹ năng nghiệp vụ; đồng thời thực hiện đào tạo tại chỗ, phân công Kiểm sát viên có kinh nghiệm kèm cặp, hướng dẫn cán bộ mới; phát động các phong trào, cuộc thi về kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên.

2.5. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp trực tiếp phụ trách, chỉ đạo công tác thanh tra nhằm chấn chỉnh trật tự kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm công vụ trong đơn vị và toàn Ngành. Đổi mới công tác thanh tra theo hướng giảm thanh tra theo kế hoạch, tăng cường thanh tra đột xuất, chú ý những đơn vị có đơn thư nặc danh phản ánh cụ thể về nội dung vụ việc, những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng; kiên quyết xử lý nghiêm trách nhiệm cá nhân, trước hết của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, lãnh đạo phụ trách không làm hết trách nhiệm, để xảy ra vi phạm nghiêm trọng dẫn đến oan, sai; nâng cao trách nhiệm, đạo đức công vụ của công chức, viên chức, người lao động trong thực hiện nhiệm vụ và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng trong nội bộ Ngành.

2.6. Yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phải trung thực, trách nhiệm và tận tụy với công việc; tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ các quy định của pháp luật, của Ngành trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ. Bảo đảm chế độ bảo mật thông tin trong công tác nghiệp vụ, an ninh, an toàn của cơ quan, đơn vị.

2.7. Toàn Ngành tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 6 (Khóa XII) về “ một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Đề án và Kế hoạch về sắp xếp tổ chức bộ máy trong Ngành Kiểm sát nhân dân, trên cơ sở đó các đơn vị chủ động sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy làm việc của đơn vị theo hướng tinh gọn đầu mối các đơn vị có tính chất tương đồng nhiệm vụ công tác, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, địa phương. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI, Khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; thực hiện nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, gắn với việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

3. Bảo đảm các điều kiện thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân

3.1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao tập trung xây dựng Đề án ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ của toàn Ngành và của từng đơn vị; xây dựng, hoàn thiện các phần mềm và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin bảo đảm tính liên thông, kết nối toàn Ngành; tăng cường công tác quản lý hành chính, văn phòng, nghiên cứu áp dụng quy định về chỉ số cải cách hành chính phù hợp với đặc thù của Ngành.

3.2. Triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong Ngành Kiểm sát nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; chú trọng các phòng trào thi đua gắn với nhiệm vụ chính trị của Ngành; kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, xuất sắc để tạo động lực phấn đấu thi đua trong toàn Ngành.

3.3. Quản lý chặt chẽ nguồn ngân sách được cấp, hỗ trợ; sử dụng tài chính, tài sản công tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật; định kỳ, kiểm tra việc sử dụng các nguồn tài chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường nguồn lực để xây dựng trụ sở cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và một số Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện bảo đảm tính trang nghiêm của trụ sở cơ quan và phục vụ tốt hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.

4. Tổ chức thực hiện

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh, cấp huyện chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình với các biện pháp cụ thể, thiết thực, bảo đảm thực hiện hiệu quả Chỉ thị này.

Chánh Văn phòng, Chánh Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị./.

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP