Về kỹ năng xây dựng và trình bày bản luận tội
10:49 19/08/2014

Luận tội là văn bản thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát trong việc bảo vệ cáo trạng truy tố do Kiểm sát viên (KSV) thực hành quyền công tố Nhà nước phát biểu tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Nội dung của bản luận tội hướng vào việc buộc tội nếu dựa vào chứng cứ xác thực đã qua thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở đó tập trung phân tích, đánh giá chứng cứ, viện dẫn chứng cứ để chứng minh tội trạng bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ, tác hại của hành vi phạm tội, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội cùng với hậu quả thiệt hại, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, vai trò trách nhiệm của bị cáo (và của đồng phạm nếu có), việc áp dụng tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo để đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng truy tố (hoặc kết luận về tội nhẹ hơn), từ đó đề xuất mức hình phạt sát đúng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, tuyên án kết tội bị cáo nhằm đảm bảo cho bản án kết tội có căn cứ và hợp pháp, phát huy hiệu quả giáo dục phòng ngừa riêng và chung, phục vụ tốt yêu cầu chính trị địa phương (hoặc từ chối buộc tội nếu xét thấy không có căn cứ để đề nghị kết tội bị cáo thì rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng truy tố)”(1). Về cấu trúc của bản luận tội theo mẫu hướng dẫn viết luận tội của ngành Kiểm sát thì gồm có ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Chúng tôi nhận thấy phần nội dung là quan trọng nhất, gồm có ba phần là: 1) Phân tích, đánh giá chứng cứ;  2) Phân tích, đánh giá tính chất, mức độ tội phạm, vai trò, vị trí, trách nhiệm của bị cáo; (hoặc từng bị cáo). 3) Đề nghị xử lý.

1. Về xây dựng và trình bày luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự

Về xây dựng bản luận tội

Qua nghiên cứu thực trạng xây dựng bản luận tội của KSV, chúng tôi nhận thấy: Kỹ năng xây dựng luận tội của KSV trong những năm qua ngày càng sâu sắc, tiến bộ, đạt yêu cầu về nội dung và hình thức, có sức thuyết phục sâu rộng trong việc giáo dục và phòng ngừa người phạm tội. Tuy nhiên, trên thực tế cũng còn một số bản luận tội được chuẩn bị rất sơ sài về nội dung, gần như sao chép nguyên văn cáo trạng, trong đó tập trung mô tả nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo mà không đi sâu phân tích, đánh giá chứng cứ, viện dẫn chứng cứ chứng minh, chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ, tác hại của hành vi phạm tội để lập luận, phân tích buộc tội bị cáo nhằm giúp cho Hội đồng xét xử nghị án, tuyên bản án kết tội bị cáo có căn cứ, sát đúng, phù hợp.

Chẳng hạn, có nhiều bản luận tội khi chứng minh hành vi phạm nhiều tội, nhiều lần đối với tội cướp tài sản nhưng không chứng minh bị can thực hiện hành vi của từng tội như tội cướp tài sản thực hiện bao nhiêu vụ (lần) theo thứ tự thời gian và địa điểm phạm tội, có bao nhiêu người tham gia (để đánh giá vụ án có đồng phạm không, việc bàn bạc phân công thực hiện tội phạm như thế nào), người bị hại là ai, cướp tài sản gì, giá trị tài sản như thế nào. Khi xác định hậu quả thiệt hại hoặc xác định các tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trong luận tội chưa lưu ý vận dụng đầy đủ các văn bản pháp luật

Về trình bày luận tội

Chúng tôi thấy rằng, kỹ năng trình bày luận tội của KSV có tiến bộ hơn so trước đây và khắc phục được nhận thức của không ít KSV là chỉ trình bày lời luận tội đối với bị cáo là xong nhiệm vụ nên ít tham gia tranh luận, đối đáp hoặc tranh luận, đối đáp chỉ mang tính hình thức hoặc không tập trung chú ý theo dõi ghi chép đầy đủ chứng cứ, tài liệu đã thẩm tra tại phiên tòa, không lắng nghe ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bổ sung và sửa chữa bản dự thảo luận tội, trình bày bản luận tội của KSV vẫn còn rất cứng nhắc, đọc nguyên văn dự thảo mà chưa chú ý lập luận phân tích và viện dẫn chứng cứ chứng minh; một số KSV chưa chú trọng đến cách trình bày một bản luận tội sao cho thật thuyết phục.

2. Kỹ năng xây dựng và trình bày bản luận tội

Về kỹ năng xây dựng bản luận tội

Kỹ năng xây dựng bản luận tội là những thao tác nghiệp vụ sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự để thể hiện ngôn ngữ viết bằng lối hành văn theo phương pháp quy nạp kết hợp diễn giải, phân tích, so sánh, tổng hợp trên cơ sở viện dẫn, sử dụng chứng cứ và những tình tiết cần chứng minh trong vụ án để lập luận, biện luận lôgic theo đúng cấu trúc của văn bản luận tội theo mẫu hướng dẫn của ngành Kiểm sát nhân dân (gồm có ba phần là phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận). Như vậy, hiểu một cách ngắn gọn thì kỹ năng xây dựng bản luận tội là cách thể hiện ngôn ngữ viết để lập luận, biện luận lôgic theo đúng cấu trúc của văn bản luận tội theo mẫu hướng dẫn.

Những thao tác nghiệp vụ đó là:

Hoạt động của KSV trước khi viết dự thảo luận tội đó là: Nghiên cứu nắm vững hồ sơ vụ án hình sự về chứng cứ, tội danh, điều khoản truy tố, đặc điểm nhân thân của bị cáo; nghiên cứu nắm vững những căn cứ pháp luật của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự cũng như các văn bản khác có liên quan đến việc truy tố, xét xử.

Hoạt động của KSV khi viết dự thảo luận tội: Về nội dung phân tích, đánh giá chứng cứ và đánh giá tính chất, mức độ tội phạm, vai trò, vị trí, trách nhiệm của bị cáo (hoặc từng bị cáo) thực hiện theo những nội dung hướng dẫn của ngành; tuy nhiên, cần nhận thức rõ thêm về nội dung này như sau:

Thứ nhất, phải thấy rằng đây là hoạt động tư duy lôgic nhằm đánh giá, suy luận về giá trị chứng minh của chứng cứ để loại bỏ những chứng cứ, tài liệu không có giá trị chứng minh. Nếu đánh giá trung thực, khách quan thì giá trị chứng minh của chứng cứ sẽ cao. Vì vậy, ở góc độ lôgic thì không nói đến nguyên tắc suy đoán chứng cứ, có nghĩa là khi một sự kiện đã rõ và đủ nói lên toàn bộ quá trình gồm nhiều vấn đề khác nhau thì không cần phải chứng minh.

Thứ hai, khi đánh giá chứng cứ phải đảm bảo đúng nguyên tắc quy định tại Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng cần lưu ý những biện pháp mở rộng khả năng đánh giá chứng cứ đó là, hoạt động kiểm tra, so sánh, đối chiếu chứng cứ này với chứng cứ khác và hoạt động phát hiện được chứng cứ mới quan trọng.

Thứ ba, khi phân tích, đánh giá chứng cứ trong luận tội cần lưu ý là phải biết vận dụng đúng các quy luật lôgic như quy luật đồng nhất, mâu thuẫn, quy luật không có cái thứ ba và quy luật lý do đầy đủ để khắc phục được tính mâu thuẫn, tính không hợp lý của tư duy và tâm lý học trong đánh giá chứng cứ.

 Thứ tư, khi viện dẫn và sử dụng chứng cứ trong luận tội phải xác định những chứng cứ quan trọng đối với vụ án, thường tập trung là: Xác định chứng cứ buộc tội đối với người phạm tội, xác định chứng cứ để thay đổi tội danh, xác định chứng cứ để thay đổi khung hình phạt đối với bị can, bị cáo và xác định chứng cứ để chứng minh động cơ, mục đích, vị trí, vai trò bị cáo trong vụ án có đồng phạm.

Chúng tôi nhận thấy việc viện dẫn đầy đủ chứng cứ xác định tội trạng của bị can là vấn đề cốt lõi của bản luận tội và bản luận tội có sức thuyết phục hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc viện dẫn các chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội hoặc viện dẫn chứng cứ để bác bỏ. Khi mô tả hành vi phạm tội của bị can, xác định hậu quả của tội phạm chính là nhằm trình bày những chứng cứ chứng minh tội trạng của bị can. Các chứng cứ được viện dẫn ra để chứng minh động cơ, mục đích, phương thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội của bị can chính là góp phần cùng Hội đồng xét xử xem xét đánh giá vụ án khách quan, toàn diện. Những chứng cứ được viện dẫn trong luận tội phải chọn lọc là những chứng cứ điển hình có giá trị chứng minh cao như lời khai nhận tội của bị can, các dấu vết, tài liệu, đồ vật và các tài liệu, chứng từ, kết quả giám định thể hiện bằng bút lục có trong hồ sơ vụ án. Nếu vụ án có đồng phạm phải chứng minh vai trò của từng người đồng phạm. Hành vi vượt quá của đối tượng nào trong vụ án đồng phạm cũng phải được đề cập chi tiết để cá thể hoá trách nhiệm hình sự đối với người đó. Nếu vụ án truy tố bị can với nhiều tội danh khác nhau thì trong luận tội phải nêu rõ dấu hiệu đặc trưng của từng tội và căn cứ phân biệt sự khác nhau của các tội thường có dấu hiệu hành vi dễ nhầm lẫn nhau như "lừa đảo" với "lạm dụng", "cướp" với "cưỡng đoạt". Trong vụ án có thiệt hại tài sản, phải nêu rõ số lượng tài sản cụ thể… vật chứng của vụ án đã thu giữ, xử lý ra sao, các yêu cầu bồi thường hoặc thực hiện trách nhiệm dân sự như thế nào? Nêu các tình tiết thuộc về đặc điểm nhân thân bị can có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Có hiểu rõ đặc điểm nhân thân bị can mới hiểu rõ hoàn cảnh, điều kiện giáo dục, quá trình phát triển nhân cách giúp cho việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm để cân nhắc giảm nhẹ đối với những trường hợp bị can nhất thời phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự. Khi trình bày đặc điểm nhân thân bị cáo phải chú ý đến độ tuổi, năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, các tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Những vấn đề cần lưu ý khi KSV xây dựng bản luận tội:

Khi xây dựng bản luận tội phải thể hiện được nguyên tắc “Luận chứng trước và luận tội sau”, tức là phải phân tích, đánh giá chứng cứ của vụ án để xác định tội phạm, người phạm tội theo các điều, khoản nào của Bộ luật Hình sự trước, sau đó phân tích, phê phán tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo trong vụ án có đồng phạm, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, các biện pháp đấu tranh phòng ngừa nhằm buộc tội bị cáo và đề xuất mức hình phạt sao cho sát đúng, phù hợp.

Khi phân tích, đánh giá chứng cứ trong bản luận tội cần phải tôn trọng sự thật khách quan vụ án, dựa trên nguyên tắc “Chứng cứ đến đâu, kết tội đến đó”, không được suy diễn quy kết chủ quan hoặc thổi phồng.

Khi xây dựng bản luận tội phải khắc phục tình trạng chỉ mô tả diễn biến nội dung sự việc phạm tội mà không viện dẫn, sử dụng chứng cứ chứng minh kèm theo.

Khi xây dựng bản luận tội phải bám sát tình hình chính trị, hoàn cảnh cụ thể của địa phương nơi diễn ra phiên tòa. Điều này thể hiện sâu sắc ý nghĩa chính trị của bản luận tội trong việc đưa vụ án ra xét xử phục vụ đắc lực yêu cầu chính trị địa phương.

Đối với vụ án phạm tội quả tang, đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị cáo nhận tội thì việc phân tích chứng cứ, chứng minh trong bản luận tội cũng cần ngắn gọn, súc tích. Đối với vụ án tính chất phức tạp, chứng cứ chưa rõ ràng, bị cáo không nhận tội, lời khai cửa người bị hại, nhân chứng còn nhiều mâu thuẫn... thì KSV phải phân tích, chứng minh trong bản luận tội thật chặt chẽ, lôgic để giải quyết các mâu thuẫn, làm rõ các vấn đề đang kết luận, bác bỏ các vấn đề mâu thuẫn, bất hợp lý.

Bản luận tội cần sắp xếp nhóm bị cáo phạm tội nghiêm trọng trước đến nhóm bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng sau để dễ đánh giá vị trí, vai trò.

Bản luận tội phải đáp ứng được những yêu cầu, đề nghị, ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đã nêu ra trong giai đoạn xét hỏi để bổ sung và sửa chữa hoàn chỉnh bản dự thảo luận tội ngay tại phiên tòa.

Về kỹ năng trình bày Bản luận tội

Theo quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, KSV trình bày lời luận tội. Hiện nay, có quan điểm cho rằng: “Kỹ năng trình bày luận tội là nghệ thuật trình bày lời nói hay, ý tứ đẹp và phải có phong cách ứng xử hợp lý của KSV”(2).

Theo quan điểm chúng tôi thì: Kỹ năng trình bày luận tội là những thao tác nghiệp vụ để thể hiện ngôn ngữ nói sao cho mạch lạc, trôi chảy, hùng hồn, sinh động, trang nhã, chuẩn xác, súc tích, đúng ngữ điệu, âm điệu theo phương pháp quy nạp kết hợp diễn giải, phân tích, so sánh, tổng hợp theo đúng tư duy lôgic, tránh lập luận ngụy biện, sử dụng từ ngữ đao to, búa lớn hoặc từ ngữ hiểu nhiều nghĩa, tối nghĩa và không được sử dụng ngôn ngữ hình thể nhằm đạt được sự truyền cảm, thu hút, lôi cuốn người nghe để tạo sức thuyết phục cao khi buộc tội bị cáo.

Yêu cầu đặt ra ở đây là KSV phải nói lưu loát, chuẩn xác tiếng Việt và đúng ngữ điệu, âm điệu (có chú ý cao độ lên xuống và nhấn mạnh đúng nhịp điệu) và không được nháy giọng, pha tiếng. Nếu không, sẽ gây bực tức cho bị cáo làm mất tính uy nghiêm nơi pháp đình, sẽ không có sức thuyết phục.

Khi trình bày lời nói phải cố gắng thoát ly đề cương dự thảo bản luận tội để tạo sự sinh động, truyền cảm, thu hút; phải tránh lối lập luận ngụy biện như lạm dụng chữ nghĩa, mệnh đề rời rạc, quy nạp sai - phi lôgic, lý lẽ quanh co, mơ hồ, lấy cái không bản chất, không quan trọng làm cái bản chất, quan trọng... và nhất là không được sử dụng ngôn ngữ hình thể. 

Những vấn đề cần lưu ý khi KSV trình bày luận tội:

Trước khi trình bày luận tội, KSV phải xây dựng dự thảo luận tội sắc bén và được bổ sung bằng những chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa trong giai đoạn xét hỏi; phải biết chú ý gắn kết giữa nội dung xét hỏi với nội dung dự thảo luận tội để xác định giá trị chứng minh của chứng cứ để chứng minh tội phạm, người phạm tội và làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án.

Khi trình bày nội dung luận tội phải liền mạch diễn đạt chuyển ý, liên tục chứng minh quan điểm của mình và viện dẫn, sử dụng chứng cứ chứng minh cho luận chứng, luận điểm của mình; không được cắt khúc diễn biến hành vi phạm tội hoặc lắp ghép chứng cứ sẽ tạo sự nghi ngờ cho bị cáo và dư luận xã hội.

Dung lượng buộc tội khi trình bày luận tội không được vượt quá chế tài hình phạt dự kiến được đề xuất cho Hội đồng xét xử lưu ý áp dụng.

Kiểm sát viên phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa lập luận theo tư duy lôgic với âm điệu ngôn ngữ do mình phát ra.

Sau khi trình bày xong lời luận tội, KSV phải lắng nghe ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bổ sung và sửa chữa bản dự thảo luận tội làm căn cứ, cơ sở cho việc tranh luận, đối đáp diễn ra tiếp theo. Mọi phản ứng ngắt lời của họ sẽ tạo không khí gay gắt, gây phản ứng không tốt, làm mất uy tín của KSV.

Kiểm sát viên phải biết tích lũy kinh nghiệm qua việc xây dựng và trình bày bản luận tội đối với từng vụ án nhất là ở các phiên tòa rút kinh nghiệm, đặc biệt là những phiên tòa xét xử các vụ án lớn, phức tạp, dư luận quan tâm hoặc các phiên tòa xét xử lưu động và phải thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm việc luận tội đối với số án đã xét xử và thường xuyên trau dồi kỹ năng này.

Sau khi vụ án được xét xử xong, KSV phải hoàn chỉnh dự thảo luận tội, ký tên KSV và lưu vào hồ sơ kiểm sát án hình sự. Đây là căn cứ, cơ sở để xác định trách nhiệm của KSV trong việc buộc tội, gỡ tội, áp dụng tình tiết không đúng từ đó đề xuất mức hình phạt không sát hợp./.

Nguyễn Hữu Hậu

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP