Những điểm mới về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
15:16 15/06/2015

Trong thực tiễn, một số quan hệ về hôn nhân và gia đình đã và đang tồn tại nhưng chưa được Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định và quy định chưa cụ thể, đặc biệt là quan hệ về tài sản, gây khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước  về Hôn nhân và gia đình. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được Quốc hội Khóa 13, kỳ họp lần thứ 7 thông qua vào ngày 19/6/2014 gồm 9 Chương, 133 điều và có nhiều điểm mới so với Luật HN và gia đình năm 2000, trong đó chế độ tài sản  của vợ chồng được quy định tại Mục 3, Chương III với 23 Điều ( từ điều 28 đến điều 50) cũng được sửa đổi, bổ sung nhiều điểm mới về các nguyên tắc chung trong áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng và về chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật định. Những điểm mới về chế độ tài sản của vợ, chồng trong luật Hôn nhân gia đình năm 2014 được quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất: Các nguyên tắc chung trong chế độ tài sản của vợ chồng ( Điều 28 đến  Điều 32).

Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: " Vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận " và  phải dựa vào nguyên tắc chung về áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng là  phải nhằm đảm bảo quyền và lợi ích  hợp pháp của vợ chồng; của các thành viên trong gia đình và của người thứ ba liên quan  đến chế độ tài sản của vợ chồng. Theo Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng được xác lập phải phù hợp với các nguyên tắc sau: Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập ( Khoản 1, Điều 29). Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình           ( Khoản, Điều 29). Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và người khác thì phải bồi thường ( Khoản, Điều 29).

Những nguyên tắc trên thể hiện rõ nhất tinh thần của luật khi thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là phải bảo đảm lợi ích chung của gia đình. Đồng thời cũng xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng, gia đình hoặc người thứ ba ngày tình. Khi một bên vợ hoặc chồng vi phạm quy định của chế độ tài sản mà gây thiệt hại cho bên kia hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba ngay tình  thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường. Đây là những điểm mới được kế thừa và phát triển các quy định về chế độ tài sản của vợ, chồng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Ngoài các nguyên tắc trên theo Điều 29, Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 còn bổ sung Điều 30 quy định về  " quyền và nghĩa vụ  của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình", cụ thể: Về quyền, nghĩa vụ  của vợ chồng trong việc thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu  của gia đình; về nghĩa vụ  của vợ, chồng  phải đóng góp tài sản riêng vào việc đóng góp các nhu cầu thiết yếu  của gia đình. Quy định này nhằm trao cho mỗi bên vợ, chồng khả năng tự mình thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vợ, chồng không thực hiện giao dịch phải chịu trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch này. Đồng thời vợ, chồng thỏa thuận lựa chọn chế độ tài sản chung hoặc chế độ tách riêng tài sản, vợ, chồng thì vẫn phải có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình để đáp ứng các nhu cầu chung của gia đình  theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

Điều 31, 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, còn quy định về nghĩa vụ và " việc hạn chế " quyền sở hữu của bên vợ, chồng có tài sản riêng là nhà ở  nhưng là nơi sinh sống duy nhất của vợ chồng, thì khi định đoạt phải đảm bảo chổ ở cho cả hai vợ, chồng; trường hợp người vợ, chồng là người đứng tên chủ tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán hoặc tài sản khác do vợ, chồng  đang chiếm hữu mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì được coi là người có quyền thực hiện giao dịch liên quan đến các tài sản đó với người thứ ba ngay tình. Quy định này không chỉ bảo vệ, quyền lợi chính đáng của  người thứ ba, mà còn tạo thuận lợi cho vợ, chồng vợ, chồng có thể thực hiện giao dịch một cách dễ dàng  mà không phải đưa ra các tài liệu chứng minh về quyền đối  với tài sản được sử dụng.

Các quy định  nguyên tắc chung chế độ tài sản của vợ, chồng đều xuất phát  từ thực tiễn, bảo đảm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, của gia đình và của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Đây là những quy định hoàn toàn mới so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Thư hai: Về chế độ tài sản của vợ, chồng theo luật định (Điều 33 đến Điều 46).

Bên cạnh khối tài sản chung của vợ, chồng được tạo dựng, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy đinh căn cứ, nguồn gốc xác lập các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng  đối với các loại tài sản đó; các trường hợp và các nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng.

1. Đối với tài sản chung của vợ chồng:

Trên cơ sở kế thừa và cụ thể hóa các quy định tại Điều 14 Luật Luật Hôn nhân và gia đình  năm 1986 và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những vấn đề về tài sản chung của vợ chồng những điểm mới như sau:

Những hoa lợi, lợi tức phát sinh, thu được từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng ( Khoản 1 Điều 33).

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.   ( Khoản Điều 33).

Tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác. ( Điều 34).

Để cụ thể hóa về thực hiện nội dung quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất như trên, luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng  nếu đối tượng của giao dịch là bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. ( Điều 35). Trường hợp vợ, chồng có  thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình  thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó, thỏa thuận này phải bằng văn bản.( Điều 36).

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, nhưng Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đã quy định rất cụ thể về vấn đề này, như: nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thõa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng pahir chịu trách nhiệm; nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm  đáp ứng nhu cầu thiết yếu cảu gia đình; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản hoặc để tọa ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của BLDS thì cha mẹ phải bồi thường; nghĩa vụ khác theo quy định của các luật khác có liên quan.( Điều 37).

Đối với việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân ( Điều 38 đến Điều 42) Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đã quy định việc chia tài sản chung  của vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án khi vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có yêu cầu nếu việc chia tài sản không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc không nhằm trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế  hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước; nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của luật này, BLDS và quy định khác của pháp luật khác có liên quan.

Ngoài những quy định trên, luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ( Điều 39); về hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ  hôn nhân (Điều 40) và các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị coi là vô hiệu ( Điều 42).

2. Đối với tài sản riêng của vợ chồng:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 kế thừa và cụ thể hóa Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 32, 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định cụ thể về xác lập tài sản riêng cảu vợ chồng, bao gồm: Tài sản mà vợ chồng có từ trước kết hôn; tài sản được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được chuyển đổi, chuyển nhượng từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản mà vợ chồng được chia từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ chồng ( Điều 43). Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014quy định cụ thể về thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng; nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản, như: nghĩa vụ của mỗi bên vợ chồng có trước khi kết hôn; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ chồng; nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình; nghĩa vụ phát sinh từ  hành vi vi phạm pháp luật của vợ chồng (Điều 45).  Quy định quyền nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng và hạn chế quyền sở hữu của người vợ, người chồng có tài sản riêng vì lợi ích chung của gia đình ( Điều 46).

Thứ ba: Về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (Điều 47 đến Điều 50).

Đây là quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền tối cao về định đoạt tài sản của vợ chồng; công khai minh bạch về quyền và  nghĩa vụ tài sản của vợ chồng  trong thời kỳ hôn nhân. Mặt khác còn nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người khác có liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là hai vợ chồng có quyền thỏa thuận, xác lập chế độ tài sản của vợ chồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực từ trước khi kết hôn và được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn ( Điều 47).

Nội dung văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng gồm: Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản ( Điều 48).

Điều 49 Luật hôn nhân và gia đình còn quy định vấn đề sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân  vì lợi ích chung của gia đình. Dự liệu các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu khi không thuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại BLDS và luật khác có liên quan; vi phạm một trong các quy định tại các điều 29,30,31 và 32  của Luật hôn nhân và gia đình; nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp  khác của cha, mẹ, con và thành viên khác cảu gia đình ( Điều 50).

Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể về nội dung chế độ tài sản của vợ chồng. Bảo đảm quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và với pháp luật của các quốc gia khác  trong khu vực và trên thế giới, trong xu thế hội nhập và phát triển.

Dương Thanh Hiền

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP