Một số điểm mới của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi)
09:27 05/12/2014

          Qua hơn 10 năm thi hành Luật tổ chức VKSND, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân ( VKSND) đã khẳng định vai trò là một thiết chế hữu hiệu trong việc bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh với các loại tội phạm, trở thành chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Mặc dù vậy, cơ chế bảo đảm cho VKSND thực hiện quyền hạn, trách nhiệm chưa đầy đủ và hiệu quả; chế độ pháp lý của Kiểm sát viên chưa thực sự phù hợp với trách nhiệm, quyền hạn; chế độ chính sách bảo đảm hoạt động của VKSND chưa đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng…  

Trước yêu cầu thể chế hóa các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý cho hoạt động của VKSND, tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc của thực tiễn, ngày 24 tháng 11 năm 2014, tại Kỳ họp lần thứ 8 - Quốc hội  khóa XIII, đã thông qua Luật tổ chức VKSND sửa đổi và Nghị quyết thi hành Luật tổ chức VKSND sửa đổi. Một số quy định mới của Luật như sau :

        1. Các quy định của Luật đã  xác định rõ vị trí, vai trò của VKSND trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước. Với chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND được xác định là thiết chế kiểm sát hoạt động tư pháp, có trách nhiệm phối hợp, đồng thời kiểm sát chặt chẽ, thường xuyên đối với Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thi hành án và các cơ quan khác trong việc thực hiện hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho hoạt động tư pháp được thực hiện đúng pháp luật, mọi vi phạm pháp luật được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

        2. Làm rõ nội dung nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành KSND. Theo đó, VKSND do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao; xác định rõ vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND các cấp. Điều chỉnh quy định về vai trò của Ủy ban kiểm sát vừa đảm bảo tính dân chủ, vừa đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành. Đồng thời, làm rõ mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Viện trưởng trong việc thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Theo đó, Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ được phân công vừa phải tuân theo pháp luật, đồng thời tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp. Bổ sung quy định về nhiệm vụ của từng ngạch Kiểm sát viên, bảo đảm phân định rõ thẩm quyền hành chính với thẩm quyền tư pháp.

          3. Xác định rõ các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của VKSND trong phát hiện, xử lý vi phạm trong hoạt động tư pháp; trách nhiệm quyết định việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân; tăng cường vai trò của VKSND trong các lĩnh vực phi hình sự, nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần; quy định rõ VKSND có trách nhiệm giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của VKSND.    

4. Quy định rõ đối tượng, nội dung, phạm vi, mục đích của từng chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; xác định rõ các mặt công tác và thẩm quyền cơ bản của VKSND trong từng lĩnh vực, đặt nền tảng cho việc hình thành cơ sở lý luận về chức năng của VKSND, bảo đảm thống nhất nhận thức và hoạt động có hiệu quả trên thực tế.

5. Quy định Viện kiểm sát nhân dân bắt đầu thực hành quyền công tố từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra “giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm”.

Luật cũng quy định Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương có thẩm quyền điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tham những, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của Luật mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

  6. Quy định VKSND có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra để kiểm tra, bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xem xét phê chuẩn hoặc ban hành các quyết định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc khi phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

            7. Quy định rõ quyền kháng nghị, kiến nghị; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kiến nghị, kháng nghị của VKSND.

 8. Quy định hệ thống VKSND gồm 4 cấp, bao gồm : Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp.

          9. Quy định rõ cơ cấu các chức danh tư pháp và chức danh khác của VKSND nói chung và ở từng cấp Kiểm sát; quy định Kiểm sát viên được bổ nhiệm để thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; tăng thời hạn bổ nhiệm Kiểm sát viên ( bổ nhiệm lần đầu nhiệm kỳ 5 năm; bổ nhiệm lần sau nhiệm kỳ 10 năm); áp dụng hình thức thi tuyển vào các ngạch Kiểm sát viên (trừ Kiểm sát viên VKSND tối cao).

10.  Quy định 04 ngạch Kiểm sát viên ( kiểm sát viên Viện kiểm sát tối cao; kiểm sát viên cao cấp; kiểm sát viên trung cấp; kiểm sát viên sơ cấp); xác định số lượng (19) và tuổi làm việc của Kiểm sát viên VKSND tối cao để thực hiện các nhiệm vụ của Ủy ban kiểm sát và một số nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND tối cao trong các hoạt động tố tụng tư pháp ; quy định chức danh Kiểm tra viên là người tham gia tố tụng, nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hoạt động  của ngành.  

          11. Cụ thể hóa các quy định về bảo đảm hoạt động của VKSND như: giao cho Viện trưởng VKSND tối cao thẩm quyền quyết định biên chế; số lượng và cơ cấu kiểm sát viên các cấp Viện kiểm sát để bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ; quy định Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên có thang, bậc lương riêng và các chế độ phụ cấp, các hình thức khen thưởng đặc thù của ngành Kiểm sát; xác định rõ thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Viện trưởng VKSND tối cao trong việc quy định, cấp phát trang phục, giấy chứng minh, giấy chứng nhận các chức danh tư pháp.

12. Kinh phí hoạt động của VKSND do VKSND tối cao lập dự toán và đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Trong trường hợp không thống nhất về dự toán kinh phí hoạt động, Viện trưởng VKSND tối cao kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định. Việc quản lý, phân bổ và sử dụng kinh phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách.

13. Quy định thời điểm có hiệu lực của một số điều, khoản của Luật kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2015 ( điều 49, khoản 3 điều 63, điều 74, điểm b và điểm c khoản 1 điều 79, điểm b và điểm c khoản 1 điều 80, khoản 1 điều 93),  tạo cơ sở pháp lý cho việc chuẩn bị về bộ máy, tổ chức, cán bộ của VKSND, bảo đảm hoạt động của hệ thống VKSND ngay khi Luật có hiệu lực.

;

                                                                                       Vinh Hiển

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP