Một số dạng vi phạm của Tòa án sơ, phúc thẩm trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất; chia thừa kế và chia tài sản chung trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
08:08 06/06/2014

Thực hiện Kế hoạch số 04/KH-TCKS-V5-V12 ngày 19/3/2012 của Lãnh đạo 3 đơn vị Tạp chí Kiểm sát, Vụ 5, Vụ 12 về việc làm và phát hành cuốn sách “Các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao chọn lọc đối với các bản án, quyết định dân sự, hành chính (tập 1: 2009- 2011)”. Vừa qua, Vụ 5 VKSND tối cao đã phối hợp, tuyển chọn một số Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng VKSND tối cao liên quan đến các tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình tranh chấp hợp đồng dân sự. Xin tóm lược một số dạng vi phạm của Tòa án sơ, phúc thẩm dẫn đến bị VKSND tối cao quyết định kháng nghị hủy án được chọn lọc trong cuốn sách Tạp chí Kiểm sát phát hành vào tháng 7/2013.

1. Các vi phạm trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
- Chưa làm rõ mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự; sử dụng chứng cứ tờ cam kết là bản potocoppy chưa được công chứng, chứng thực hay xác nhận của Tòa án là đã đối chiếu với bản chính; không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc giám định độ tuổi cây cao su; cấp phúc thẩm đưa vợ bị đơn tham gia tố tụng trong khi cấp sơ thẩm không đưa vào là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của đương sự…

- Tòa án hai cấp chưa xác minh làm rõ trình tự, thủ tục kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các đương sự đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chưa đủ căn cứ vững chắc, không đảm bảo tính khách quan.

- Tòa án sơ thẩm xác định đúng thẩm quyền nhưng không xác minh làm rõ quá trình sử dụng đất, trồng cây trên đất, chăm sóc và quản lý cây. Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với đất tranh chấp với lý do vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án là vi phạm khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai; đình chỉ vụ án nhưng lại giải quyết tranh chấp về cây trồng trên đất là không đúng;

- Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi quyền sở hữu nhà của nguyên đơn là đúng. Tòa án cấp phúc thẩm công nhận quyền sở hữu của nguyên đơn không có căn cứ và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền là không đúng thẩm quyền và không đúng quy định của pháp luật.

- Tòa án hai cấp chưa xác minh việc thay đổi diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không hướng dẫn quyền khởi kiện vụ kiện khác với người có lợi nghĩa vụ liên quan (nếu có yêu cầu)… chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không buộc nguyên đơn phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là chưa đủ căn cứ…

- Tòa án hai cấp chưa xem xét quyền lợi của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; chưa làm rõ giấy tờ tặng cho quyền sử dụng đất đã buộc bị đơn tháo dỡ nhà trả lại đất cho nguyên đơn là chưa đủ căn cứ luật định.

- Tòa án hai cấp không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; không xem xét việc không thực hiện nghĩa vụ trả tiền của bên nhận chuyển nhượng đất để xác định lỗi của các bên và trách nhiệm bồi thường; ngân hàng không thực hiện bán đấu giá tài sản thế chấp là trái quy định về thanh lý tài sản thu hồi nợ… đã bác yêu cầu của nguyên đơn không có căn cứ.

- Tòa án sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng không đúng; Tòa án phúc thẩm xác định hợp đồng vô hiệu có căn cứ. Song Tòa án 2 cấp áp dụng giá đất do Hội đồng định giá đưa ra thấp hơn khung giá Nhà nước quy định tại địa phương là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của đương sự; chưa làm rõ những thành viên trong hộ gia đình có quyền sử dụng đất để đưa vào tham gia tố tụng…

- Tòa án hai cấp chưa xác minh làm rõ quá trình thay đổi bản đồ địa chính năm 1995 và năm 2003; công nhận cho bị đơn được sử dụng một phần đất trong khi bị đơn không có yêu cầu phản tố đòi lại phần đất đó là không đúng quy định.

- Tòa án hai cấp chưa xác định rõ diện tích đất bị đơn được bố mẹ cho năm 1978 có vị trí, kích thước, tứ cận có phù hợp với diện tích được cấp năm 1994 hay không đã xác định đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc được cho là chưa đủ căn cứ; Tòa án chỉ xem xét giải quyết phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không xem xét phần diện tích đất còn lại; không yêu cầu các đương sự tham gia xác định kích thước, tứ cận, vẽ sơ đồ diện tích là chưa đảm bảo tính khách quan; vi phạm quy định về thủ tục định giá; lấy kết quả định giá của vụ án khác để tính án phí.

- Tòa án hai cấp chưa xác định rõ việc nguyên đơn khai phá thêm đất (nếu có) thì diện tích là bao nhiêu và căn cứ quy định nào của pháp luật để xác định ai là người có quyền sử dụng đối với diện tích đất đó.

- Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn chưa đủ căn cứ. Tòa án phúc thẩm bác kháng nghị của Viện kiểm sát tỉnh với lý do quá thời hạn kháng nghị để ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

- Tòa án hai cấp chưa xác minh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự đúng hay sai đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đủ căn cứ; chưa làm rõ phần tài sản là nhà, vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp do ai xây dựng; không đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.

2. Các dạng vi phạm trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế tài sản

- Chưa làm rõ căn cứ xác định còn thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế; chưa thu thập đủ căn cứ xác định việc có hay không việc Nhà nước trưng mua tài sản trong cải cách ruộng đất để làm căn cứ giải quyết tài sản có tranh chấp; án phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm về nội dung nhưng phần quyết định của bản án tuyên sai so với bản án sơ thẩm…

- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu vì vi phạm cả hình thức và nội dung nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu xin hoàn tất hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất của đương sự là không có căn cứ theo Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- UBND các cấp giải quyết bác đơn yêu cầu chia thừa kế của đương sự không đúng thẩm quyền. Khi đương sự khởi kiện tiếp, Tòa án lại căn cứ vào quyết định giải quyết việc chia thừa kế của UBND các cấp không đúng để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là vi phạm tố tụng và không đúng khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993; Thông tư 02/TTLT ngày 28/7/1997; Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP.

- Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng pháp luật về thừa kế mà căn cứ công sức nuôi dưỡng mẹ Liệt sỹ để giao toàn bộ nhà đất và tài sản cho bị đơn sở hữu, sử dụng là không đúng quy định của pháp luật đối với việc giải quyết mối quan hệ tranh chấp.

- Xác định sai mối quan hệ tranh chấp; sửa án sơ thẩm làm mất quyền kháng cáo của đương sự; các đồng nguyên đơn không ký tên vào đơn khởi kiện là vi phạm Điều 161 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 1.1 phần 1 Nghị quyết 02/2006/HĐTP ngày 12/5/2006…

- Bản án phúc thẩm có vi phạm về nội dung (bác toàn bộ di chúc là không đúng) đã 02 lần Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao có Quyết định giám đốc thẩm hủy án để xét xử lại nhưng chấp hành không nghiêm quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm.

- Chưa thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân hay hộ gia đình để xác định tài sản tặng cho; chưa giám định dấu vân tay của người có tài sản điểm chỉ trong hợp đồng tặng cho khi nguyên đơn cho rằng tài liệu bị đơn xuất trình là giả, không phải là dấu vân tay của người có tài sản tặng cho…

- Bản án sơ, phúc thẩm không giải quyết toàn bộ vụ án theo yêu cầu của đương sự nên khó khăn cho công tác thi hành án; chưa làm rõ việc sử dụng diện tích đất công ích có vi phạm quy hoạch không.

- Không xác định đúng quan hệ pháp luật trong giải quyết vụ kiện

- Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu chia thừa kế của đương sự là chưa đủ căn cứ vững chắc; Tòa án cấp phúc thẩm xác định đất tranh chấp là di sản thừa kế và chia luôn cũng chưa có căn cứ vững chắc và không đảm bảo quyền kháng cáo của đương sự.

- Đơn khởi kiện và văn bản ủy quyền không được hợp pháp hóa lãnh sự; không đưa người có quyền lợi liên quan tham gia tố tụng; xác định tài sản tặng cho và tách khỏi khối di sản thừa kế chưa đủ căn cứ; định giá chưa sát giá thị trường.

- Xác định tài sản riêng không đúng; không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về đất đã có di chúc không đúng; áp dụng Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 không chính xác, không phù hợp hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004.

- Xác định sai mối quan hệ pháp luật từ tranh chấp di sản thừa kế liên quan đến quyền sử dụng đất sang tranh chấp quyền sử dụng đất và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do tranh chấp QSDĐ chưa được hòa giải tại UBND xã.

- Chưa giám định tài liệu chữ ký và chữ viết trong di chúc theo yêu cầu của bị đơn; chưa thu thập chứng cứ xác định rõ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi có di chúc để xác định có hợp pháp hay không đã xác định di chúc hợp pháp để chia thừa kế theo di chúc là chưa đủ cơ sở.

- Chưa xác minh lời khai của nhân chứng để xác định rõ quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng đã xác định quyền thừa kế tài sản của đương sự là chưa đủ căn cứ vững chắc; xác định di sản thừa kế trước khi chia chưa đúng.

3. Các vi phạm trong giải quyết tranh chấp hôn nhân, gia đình; chia tài sản chung; bồi thường ngoài hợp đồng

- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tuân thủ về hình thức và nội dung. Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm không xác định hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên khi giải quyết hợp đồng vô hiệu;

- Tranh chấp hợp đồng “chuyển đổi đất” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định đó là “hợp đồng đòi lại tài sản” là không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.

- Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xác định đầy đủ quan hệ pháp luật “liên đới” để thực hiện nghĩa vụ thanh toán là chưa chính xác;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm bác yêu cầu của người vợ là không có căn cứ.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên người chồng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chia quyền sử dụng đất cho cả hai vợ chồng là không phù hợp với Điều 27 Luật HNGĐ.

- Bị đơn cho rằng đã trả tiền cho nguyên đơn, song không có tài liệu (bút tích) chứng minh, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn chấp nhận.

- Nguyên đơn khởi kiện Quyết định hành chính, trong đó có việc đòi đất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn thụ lý giải quyết theo yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán giá trị đất là vi phạm khoản 1 Điều 168 BLTTDS.

- Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa xác định được mức tổn thất về vật chất trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là vi phạm điểm b.2, tiểu mục 2.5 mục 2 phần II Thông tư liên tịch số 04/2006 ngày 22/11/2006 của VKSTC-BCA- BTP- BQP- BTC

- Khi thụ lý vụ án bị đơn ở địa chỉ giống như nguyên đơn cung cấp. Nhưng sau đó Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, bị đơn đã xuất cảnh sang Mỹ nên ra Quyết định đình chỉ vụ án. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm đ Điều 168 và khoản 3 Điều 194 BLTTDS từ đó bác kháng nghị của Viện kiểm sát là “vi phạm tiểu mục 8.6 mục 8 phần 1 Nghị quyết số 02/2006 ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là vi phạm Điều  588 BLDS;

- Bị đơn không phản tố nhưng Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp là không đúng;

- Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa xác định rõ quyền sử dụng đất là của hộ gia đình hay cá nhân mà đã xác định hợp đồng vô hiệu là chưa có căn cứ chính xác.

- Nguyên đơn khởi kiện đòi lại tiền nảy sinh trong quan hệ chuyển quyền sử dụng đất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định quan hệ “đòi tiền” là không đúng;

- Tên người chuyển quyền sử dụng đất không đúng như trong giấy tờ xác định quyền của mình, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xác định hợp đồng vô hiệu;

- Chúc thư do người khác viết hộ nhưng không có điểm chỉ hay chữ ký của chủ sở hữu đất; không có người chứng kiến; không được địa phương chứng thực là không có giá trị pháp lý nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn chấp nhận;

- Tòa án chưa xác định rõ văn tự sang tên tài sản, điểm chỉ là ngón út phải hay trái của chủ sở hữu;

- Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa làm rõ nhà đất được địa chính xác nhận qua các thời kỳ;

- Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định diện tích đất % không đúng với thực tế;

- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản thừa kế, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định là quan hệ “chia tài sản”.

- Không áp dụng quy định tại Điều 78 BLTTDS về hậu quả của việc chấm dứt đại diện trong tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

- Tên Thẩm phán tham gia phiên tòa phúc thẩm không đúng với tên Thẩm phán ghi trong thành phần những người tiến hành tố tụng ghi trong biên bản phiên tòa; không xác định rõ trách nhiệm chịu chi phí đo đạc, định giá. Nguyên đơn không phải chịu trách nhiệm chi phí đo đạc theo Điều 142 BLTTDS nhưng bản án nêu nguyên đơn tự nguyện nộp nên không xét đến là ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn.

- Xác định đất tranh chấp là lối đi chung chưa đủ căn cứ; không đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng

- Tòa án sơ thẩm xác định đất tranh chấp của nguyên đơn chưa đủ căn cứ; Tòa án phúc thẩm không kiểm tra hiện trạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn đã xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bị đơn không đảm bảo căn cứ vững chắc, không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự; vi phạm Điều 56 BLTTDS vì không đưa Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng vào tham gia tố tụng.

- Bác đơn khởi kiện của nguyên đơn khi chưa xác minh rõ việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn có đúng quy định hay không là chưa đủ căn cứ.

- Tòa án hai cấp chưa xác minh làm rõ sự chênh lệch về diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất đo đạc thực tế nhưng đã buộc bị đơn phá dỡ nhà và vật kiến trúc khác trả lại đất cho bị đơn vượt quá diện tích đất nguyên đơn bị thiếu là không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi của đương sự.

- Thanh toán tiền công sức chưa đủ căn cứ, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của đương sự; không đưa vợ nguyên đơn tham gia tố tụng.

   Thạc sĩ Phạn Thị Thanh Bình
Phòng 6, Vụ 5 VKSNDTC
Nguồn: Kiemsatonline

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP