Mối quan hệ phối hợp giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết Khiếu nại, Tố cáo trong Tố tụng hình sự.
09:01 14/11/2014

    I-ĐẶT VẤN ĐỀ:

    1- Sự cấn thiết của việc nghiên cứu chuyên đề:

          Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (KN-TC) trong tố tụng hình sự được hiểu là mối quan hệ trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và mối quan hệ trên cơ sở Quy chế phối hợp nhằm cụ thể hóa một số nội dung theo quy định của pháp luật hoặc quy định rõ hơn những nội dung mà pháp luật chưa quy định cụ thể, để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình về giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về tư pháp đúng quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho người khiếu nại, tố cao.

        Để công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (KN-TC) trong hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng đạt hiệu quả, thì công tác phối hợp giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân đóng vai trò hết sức quan trọng. Việc Phối hợp trong công tác giải quyết KN-TC nói chung và trong tố tụng hình sự  nói riêng  được Đảng Nhà nước ta luôn quan tâm, Chỉ thị 09-CT/TTW ngày 6/3/2002 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nêu rõ “.. Đảng ủy, Ban cán sự các ngành, Công an, Viện kiểm sát, Tư pháp chỉ đạo rà soát, phân loại các vụ việc khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp, có kế hoạch giải quyết và chỉ đạo cấp dưới giải quyết các KN-TC về hoạt động tư pháp…” và Chỉ thị số 35-CT/TW ngày  26/5/2014 của Bộ chính trị nêu “… Các cơ quan Kiểm tra, Thanh tra, Kiểm sát, Tòa án, Công an nâng cao trách nhiệm trong việc chủ trì, phối hơp xử lý theo thẩm quyền, giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện phứ tạp, kéo dài khắc phục tình trạng chuyển đơn lòng vòng…”. Để triển khai việc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, Ban Cán sự Đảng Viện KSND tối cáo đã ban hành Kế hoạch số 09-KH/BCSĐ ngày 4/8/2014, trong đó có nội dung “…Viện trưởng Viện KSND các cấp chủ trì phối hợp với các cơ quan tư pháp cùng cấp rà soát chỉ đạo xử lý, giải quyết các đơn KN-TC liên quan đến hoạt động tư pháp, tập trung vào loại đơn phức tạp kéo dài, có dấu hiệu oan sai; xây dựng quy chế phối hợp với các cơ quan hữu quan trong công tác tiếp công dân, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC…”. Như vậy việc phối hợp trong giải quyết và kiểm sát giải quyết KN-TC trong hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng được Đảng Nhà nước và Viện KSND tối cao luôn quan tâm chỉ đạọ.

        Giải quyết khiếu nại, tố cáo ( KN-TC) trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, khi nhận được đơn KN-TC của công dân thuộc thẩm quyền giải quyết thì tiến hành tiến hành thụ lý và giải quyết theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm quyền lợi cho người KN-TC.

        Để công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự được tiến hành đúng pháp luật, thì cần có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên và có hiệu quả giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân. Việc phối hợp từ khâu công tác tiếp nhận, phân loại xử lý đơn đến khâu giải quyết KN-TC, được thực hiện thông qua nhiều hình thức như: Phối hợp theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; phối hợp trong xây dựng quy chế;  qua trao đổi với bằng điện thoại, mạng điện tử.  Ngoài ra việc phối hợp còn thể hiện thông qua chức năng riêng có của Ngành kiểm sát đó là Kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong họat động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói  riêng. Việc phối hợp càng nhịp nhàng gắn kết thì hiệu quả công tác giải quyết KN-TC và kiểm sát việc giải quyết KN-TC càng được nâng cao.

        Trong thời gian qua mối quan phối hợp giữa Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh , Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, mối quan hệ phối hợp được thực hiện từ khâu phân loại xử lý đơn, đến khâu giải quyết KN-TC, phối hợp trong việc thực hiện rà soát kiểm tra Các cơ quan cấp dứới trong  thực hiện việc  giải quyết KN-TC về tư pháp, quan hệ phối hợp trong kiểm sát việc giải quyết KN-TC.  Mối quan hệ phối hợp thực hiện đã nhiều năm hình thức phối hợp khá phong phú, như phối hợp qua trao đổi trực tiếp, phối hợp qua quy chế, phối hơp qua các quy định của pháp luật trong thực hiện chức năng của Viện kiểm sát đó là kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp.

        Bên cạnh những kết quả đạt đươc, trong thời gian qua mối quan hệ phối hợp giữa Viện KSND tỉnh, Công an tỉnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh vẫn còn những tồn tại hạn chế nhất định. Thông qua hoạt động thực tiễn của ngành kiểm sát thấy rằng còn một số nguyên nhân dẫn đến hạn chế tồn tại của mối quan hệ trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự đó là:

        - Pháp luật tố tụng hình sự có nội dung còn chưa  quy định cụ thể mối quan hệ giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, dẫn đến việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngành kiểm sát có nội dung chưa thuận lợi.

        - Việc xây dựng quy chế phối hợp đã triển khai thực hiện nhưng có nội dung còn hạn chế,  việc tổ chức triển khai thực hiện quy chế phối hợp có lúc còn chưa được thường xuyên.

        Để mối quan hệ giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra, và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, thực hiện đúng Chỉ thị số 09-CT/TW, Chỉ thị số 35-CT/TW và kế hoạch số 09-KH/BCS, cần nghiên cứu đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp khâu công tác này, chúng ta nghiên cứu chuyên đề “Mối quan hệ phối hợp giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân, trong công tác giải quyết  và kiểm sát việc giải quyết Khiếu nại, Tố cáo trong Tố tụng hình sự” là hết sức cần thiết.

         2- Cơ sở pháp lý:

         Để chuyên đề “Mối quan hệ giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết Khiếu nại, Tố cáo trong Tố tụng hình sự” đạt được  hiệu quả, có ý nghĩa áp dụng trong thực tiễn, quá trình xây dựng, nghiên cứu chuyên đề  đã căn cứ vào các quy định sau:

         - Các chỉ thị của Đảng, Nhà nước liên quan đến công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong Tố tụng hình sự nói riêng;

          - Luật tổ chức Viện KSND số 34/2002/QH10, năm 2002;

          - Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003-QH11, năm 2003;

          - Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 năm 2011;

          - Luật tố cáo số 03/2011/QH13, năm 2011;

          - Luật tiếp công dân số 42/2013/QH 13, năm 2013;

          - Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP ngày 10/ 8/2005, của liên ngành Trung ương hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo;

          -  Quy chế 200/QĐPH/VKSTC-TATC-BCA-BTP-BQP ngày 26/1/2010 của Liên ngành trung ương, về phối hợp trong công tác giải quyết KN-TC về tư pháp;

          - Quyết định số 59-/2006-QĐ-VKSTC-V7 ngày 6/2/2006, của Viện KSND tối cao,  ban hành Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của viện kiểm sát;

          - Quyết định số 126/QĐ-VKSTC-V7 ngày 6/4/2012 của Viện KSND tối cao, về sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát;

          - Quyết định số 487/QĐ-VKSTC-V7 ngày 4/9/2008 của Viện KSND tối cao, về giao nhiệm vụ kiểm sát giải quyết khiếu nại tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp;

          - Quy chế số 01/LN-QCPH ngày 25/8/2010 quy chế phối hợp liên ngành giữa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Công an, Tòa án và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh, trong việc giải quyết khiếu nại tố cáo về tư pháp.

     - Các quy định khác của pháp luật có liên quan đến quan hệ phối hợp.

          3- Ý nghĩa của chuyên đề:

          - Việc nghiên cứu chuyên đề tạo điều kiện đánh giá lại kết quả hoạt động công tác phối hợp trong giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra công an tỉnh và Tòa án nhân dân tỉnh một cách toàn diện, khách quan và chính xác; phân tích đánh giá tổng kết thực tiễn những kết quả, kinh nghiệm thực tiễn từ đó phát huy nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong Tố tụng hình sự.

          - Mặt khác thông qua nghiên cứu chuyên đề này để thấy được những vướng mắc, khó khăn bất cập về mối quan hệ phối hợp giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra công an tỉnh và Tòa án nhân dân tỉnh về giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, để từ đó phân tích rõ nguyên nhân và tìm biện pháp khắc phục.

          II- MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN, CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.

         1-Mối quan hệ gữa Viện KSND, Cơ quan điều tra, Tòa án về giải quyết KN-TC quy định trong tố tụng hình sự.

         a-Quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự:

         - Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định rõ về thẩm quyền giải quyết KN-TC của cơ quan Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân cụ thể:

         Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Điều tra viên, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; Điều  331 Bộ luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thẩm phán, Phó chánh án và Chánh án tòa án; Điều 330 quy định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó viện trưởng và Viện trưởng Viện KSND, ngoài ra tại các Điều  329, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành vi quyết định tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan điều tra, quy định thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát đối với khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt tạm giữ, tạm giam.

          Đối với thẩm quyền giải quyết tố cáo, tại Khoản 1, 3, Điều 337 quy định rõ: “ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì ngừời đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Trong trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện KSND, Chánh án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết…Tố cáo liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam phải được Viện kiểm sát xem xét giả quyết”.

         b-Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quan hệ  gữa Viện kiểm sát , Cơ quan điều tra và Tòa án trong viêc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự:

         - Quan hệ trong giải quyết KN-TC gữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra  được thể hiện: Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự quy đinh “...Khiếu nại quyết định hành vi tố tụng của điều tra viên, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra do Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Viện kiểm sát cùng cấp phải xem xét giải quyết, Viện kiểm sát cùng cấp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng”.

         - Ngoài ra tại Điểm 2.1, Mục 2, Phần II, Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại tố cáo quy định quan hệ trong việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự gữa Viện Kiểm sát với Cơ quan điều tra và Tòa án cụ thể “… kết thúc việc giải quyết khiếu nại, cơ quan cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải ban hành quyết định giải quyết. Quyết định này phải được gửi cho ngừời khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết cuối cùng và Viện kiểm sát cùng cấp”.

         2- Mối quan hệ giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân về  công tác kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự.

          Theo quy định tại Điều 339 Bộ luật tố tụng hình sự và Mục 1, 2 Phần IV  Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BTP ngày 10/8/2005, thì mối quan hệ giữa Viện KSND với Cơ quan điều tra, Tòa án trong kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự thể hiện:

         -Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới… ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo…Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhân được yêu cầu…”

         -Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới… kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình và cấp dưới… Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thông  báo kết quả cho Viện kiểm sát trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu…”

         -Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới… cung cấp hồ sơ tài liệu liên quan đến việc giải quyết KN-TC,  khi yêu cầu của Viện kiểm sát theo các Điểm a và b Khoản 1 Điều 339 Bộ luật tố tụng hình sự không được các cơ quan thực hiện. Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu…”

         - Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ quan điều tra, Tóa án…”

         Trong kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, mối quan hệ  trong  được thể hiện là việc Viện KSND áp dụng các biện pháp kiểm sát thông qua công tác kiểm và trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của Cơ quan điều tra và Tòa án.

         3- Mối quan hệ giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra, và Tòa án  nhân dân tỉnh trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, được thực hiện trên cơ sở Quy chế phối hợp liên ngành.

         Do quy định của pháp luật tố tụng hình sự về  mối quan hệ giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Tòa án về giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC  có những nội dung chưa cụ thể, nên quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan chưa thuận lợi, dẫn đến hiệu quả công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC chưa cao. Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, đảm bảo quyền lợi cho người khiếu nại, tố cáo thì các cơ quan tư pháp ( Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Tòa án )  cần phải xây dựng mối quan hệ phối hợp. Nội dung của quy chế phối hợp càng cụ thể thì hiệu quả của công tác phói hợp trong giải quyết và kiểm sát việc giải quyết càng cao. Trong thực tiễn để giải quyết một số vướng mắc Viện KSND thường chủ trì phối hợp với các cơ quan tư pháp xây dựng quy chế phối hợp liên ngành trong phân loại, xử lý đơn; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng.

     III- THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH, CƠ QUAN ĐIỀU TRA- CA TỈNH HÀ TĨNH VÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ. ( Thời điểm lấy số liệu đánh giá từ 1/1/2008 đến 31/12/2013)

     1. Kết quả về giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự:

    1.1: Đối với đơn khiếu nại:

     - Tổng số đơn phải thụ lý giải quyết: 30 đơn/ 24 việc ( Trong đó: Viện KSND tỉnh: 24 đơn/18 việc, Cơ quan điều tra Công an tỉnh: 6 đơn/ 6 việc         , Tòa án nhân dân tỉnh: 0 )

    - Tổng số đơn đã giải quyết:  30 đơn/ 24 việc, ( Trong đó: Viện KSND tỉnh: 24 đơn/18 việc, Cơ quan điều tra Công an tỉnh: 6 đơn/6 việc, Tòa án nhân dân tỉnh: 0)       

     - Số đơn còn  lại chưa giải quyết: 0

     1.2: Đối với đơn tố cáo:

     - Tổng số đơn phải thụ lý giải quyết: 4 đơn/4việc (Trong đó: Viện KSND tỉnh: 1 đơn/1 việc, Cơ quan điều tra Công an tỉnh: 3 đơn/ 3 việc , Tòa án nhân dân tỉnh: 0 )

    - Tổng số đơn đã giải quyết: 4 đơn/4 việc ( Trong đó: Viện KSND tỉnh:   1 đơn/ 1 việc, Cơ quan điều tra Công an tỉnh: 3 đơn/3 việc, Tòa án nhân dân tỉnh: 0)       

     - Số đơn còn lại chưa giải quyết:  0

     Nhìn chung tình hình khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh , Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh không nhiều, điều đó thể hiện công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử của các các cơ quan tố tụng khách quan đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các KN-TC thuộc thẩm quyền, thì các cơ quan tư pháp đã kịp thời thụ lý, làm rõ xác minh và giải quyết đúng trình tự thủ tục, đảm bảo quyền lợi cho người khiếu nại, tố cáo.

     2-Kết quả công tác Kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự:

     - Tổng số đơn phải kiểm sát: 9 đơn/ 9 việc ( Cơ quan điều tra)

     - Đã kiểm sát việc giải quyết: 9 đơn/ 9 việc ( cơ quan điều tra

     - Chưa giải quyết: 0

     - Kết quả áp dụng các biện pháp kiểm sát:

     + Biện pháp yêu cầu: 0

     + Trực tiếp kiểm sát:0

     + Ban hành kiến nghị, kháng nghị:0

     Trong những năm qua, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh luôn quan tâm thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát Việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự nói riêng, trên cơ sở quy định của pháp luật và quy chế phối hợp liên ngành các cơ quan tư pháp cấp tỉnh, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh đã thường xuyên  nắm và đôn đốc đơn vị tư pháp giải quyết đơn KN-TC kịp thời đúng quy định. Thông qua công tác phối hợp Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát ngày từ khi bắt đầu thụ lý đơn, đến việc xác minh làm rõ và ban hành văn bản giải quyết. Chính nhờ sự quan tâm, kiểm sát chặt chẽ ngay từ đầu cho nên trong những năm qua việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp chưa có vi phạm đến mức phải áp dụng các biện pháp kiểm sát, điều đó  thể hiện hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự của Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh.

     3- Kết quả thực hiện mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra- Công an tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh .

     3.1. Kết quả thực hiện mối quan hệ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

     a- Về giải quyết KN-TC: Trong những năm qua Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra-CA tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh căn cứ vào quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BTP ngày 10/8/2005 đã thực hiện khá tốt mối quan hệ  trong qua trình giải  quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, hầu hết các các văn bản giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng , các cơ quan tư pháp cấp tỉnh đều thực hiện gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh khá kịp thời và đầy đủ. Trong quá trình thực hiện chức năng của mình Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã theo dõi và đôn đốc nhắc nhỡ một số trường hợp cơ quan tư pháp gửi quyết định chậm và đã được cơ quan tư pháp tiếp thu khắc phục.

     Trong kỳ Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý giải quyết 03 đơn khiếu nại Quyết định không khởi tố vụ án của Thủ trưởng cơ quan điều tra, để việc giải quyết khiếu nại vừa đảm bảo khách quan, chính xác vừa thực hiện mối quan hệ theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh đã yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra làm rõ các nội dung liên quan đến khiếu nại, đồng thời thực hiện việc giải quyết đơn đúng quy định của pháp luật.

      b-Về kiểm sát việc giải quyết KN-TC:  Thực hiện chức năng của ngành theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TCTC-BCA-BTP, trong thời gian quaViện KSND tỉnh đã kiểm sát chặt chẽ việc thụ lý và giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Thường xuyên cử kiểm sát viên nắm tình hình, kết quả thụ lý và tiến độ giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Định kỳ hàng tháng đối chiếu rà soát số liệu thụ lý, giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp, chính vì vậy mà 100% đơn KN-TC về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp đã được kiểm sát. Trong qúa trình kiểm sát, các kiểm sát viên đã chú ý kiểm sát việc thụ lý đơn có đúng thẩm quyền hay không; công tác xác minh làm rõ, việc ban hành văn bản giải quyết, thời hạn giải quyết, nội dung giải quyết KN-TC đã khách quan chính xác, đúng quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người KN-TC hay chưa?

      Do thực hiện tốt mối quan hệ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nên trong thời gian qua các cơ quan tư pháp cấp tỉnh (Cơ quan điều tra-CA tỉnh, Tòa án tỉnh) đã thực hiện khá tốt công tác giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự. Trong quá trình kiểm sát khi phát hiện ra những nội dung mà cơ quan tư pháp có thể dẫn đến vi phạm như: Chậm thời hạn giải quyết đơn, thực hiện quy trình xác minh để giải quyết chưa đảm bảo thì Kiểm sát viên đã kịp thời nhắc nhỡ và Cơ quan tư pháp khắc phục kịp thời, do thực hiện tốt mối quan hệ nên trong thời gian qua, cơ quan tư pháp chưa có vi phạm đến mức Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh phải áp dụng các biện pháp yêu cầu theo quy định của pháp luật.

        3.2. Kết quả thực hiện mối quan hệ theo Quy chế phối hợp:

      Pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định những mối quan hệ cơ bản về chức năng quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự. Để  tạo  kiện thuận lợi cho từng cơ quan trong việc thực hiện thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao trong giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng, trên cơ sở quy định của pháp luật và hoạt động thực tiễn, liên ngành các cơ quan tư pháp cấp tỉnh ( Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và Cục Thi hàn án dân sự tỉnh Hà Tĩnh) đã ban hành quy chế số 01/LN- QCPH ngày 25/8/2010, về phối hợp trong việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp.

      Quy chế đã quy định cụ thể hóa về mối quan hệ phối hơp đối với những nội dung pháp luật  quy định chưa cụ thể, hoặc những nội dung pháp luật chưa quy định nhưng phát sinh thực tế, hoặc những nội dung vướng mắc trong thực tiễn cần phối hợp để thực hiện công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng thực hiện thuận lợi và đạt chất lượng hiệu quả cao.

      Với nguyên tắc phối hợp trên tinh thần chủ động, bảo đảm đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan trong việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng, trong thời gian qua Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra công an tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp chặt chẽ và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

     Việc phối hợp được thực hiện trên nhiều nội dung, cụ thể:

     +Trong phân loại xử lý đơn: Trong quá trình tiếp nhận phân loại đơn, nếu phát hiện đơn KN-TC về tư pháp không thuộc thẩm quyền của mình mà thuộc thẩm quyền của Cơ quan hữu quan thì nhanh chóng xử lý chuyển để tạo điều kiện cho cơ quan hữu quan giải quyết KN-TC kịp thời, trong thời gian qua nội dung phối hợp này được Liên ngành các cơ quan tư pháp cấp tỉnh thực hiện thường xuyên và có hiệu quả.

     +Trong quá trình giải quyết đơn, nếu có KN-TC bức xúc và liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì phải có phối hợp trong giải quyết đơn, đảm bảo vừa đúng quy định của pháp luật vừa đảm bảo quyền lợi cho người KN-TC và ổn định tình hình trên địa bàn. Trong kỳ mặc dù chưa có đơn KN-TC búc xúc nhưng cũng có một số trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan tư pháp khác nhau, các cơ quan tư pháp cấp tỉnh đã phối hợp bàn bạc thống   nhất trong việc giải quyết KN-TC, kết quả khiéu nại được gải quyết đúng pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho công dân.

     +Phối hợp trong việc kiểm tra việc giải quyết KN-TC về tư pháp của các cơ quan tư pháp cấp dưới:

     Nội dung này được Viện KSND tỉnh, Cơ quan điều tra Công an tỉnh và Tòa án nhân dân tỉnh quan tâm thực hiện khá tốt, đã phối hợp kiểm tra việc giải quyết KN-TC về tư pháp của 11 đơn vị tư pháp cấp huyện,  thông qua kiểm tra đã phát hiện nhiều tồn của cơ quan tư pháp cấp huyện  đã ban hành  kết luận và yêu cầu chấn chỉnh khắc phục.

     + Định kỳ hàng tháng thông báo kết quả thụ lý và giải quyết KN-TC cho Viện KSND để Viện KSND thực hiện chức năng kiểm sát: Ngoài  mối quan hệ gửi văn bản giải quyết KN-TC cho Viện KSND theo quy định, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh còn  thực hiện phối hợp đó là hàng tháng, Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh có trách nhiệm thông báo kết quả thụ lý và gải quyết KN-TC trong hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng cho Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh, để Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết KN-TC theo quy định của pháp luật. Trong thực tế cứ đến cuối tháng, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh, cử kiểm sát viên trực tiếp đối chiếu số liệu đơn đã thụ lý, giải quyết KN-TC với các cơ quan tư pháp, nội dung này được các đơn vị thực hiện đều đặn, do vậy mà số đơn KN-TC về hoạt động tư pháp thuộc trách nhiệm giải quyết của các cơ quan tư pháp, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh nắm đầy đủ  và kiểm sát thuận lợi.

     + Định kỳ vào đầu quý I hàng năm, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh chủ trì trong việc xây dựng báo cáo và  tổ chức họp tổng kết công tác phối hợp, thông qua hội nghị đã phân tích đánh giá kết quả công tác phối hợp trong năm qua,  nêu ra được những nội dung phối hợp tốt, hiệu quả để phát huy và cũng đồng thời qua đó chỉ ra được những tồn tại hạn chế trong công tác phối hợp cần chấn chỉnh. Thông qua công tác tổng kết đã đề ra được những biện pháp và chương trình phối hợp trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng.

     Trên cơ sở Quy chế phối hợp, trong thời gian qua mối quan hệ gữa Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra công an tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thực hiện trên nhiều nội dung trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng. Để đạt được kết quả về mối quan hệ phối hợp theo quy chế nêu trên, các cơ quan tư pháp đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức quan hệ phối hợp khác nhau.

     Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì quan hệ ​giữa Viện KSND, cơ quan điều tra và Tòa án trong giải quyết và kiểm sát việc giải quết KN-TC, hình thức quan hệ chủ yếu đó là:  Các cơ quan tư pháp ban hành Thông báo kết quả giải quyết KN-TC cho Viện KSND; thông qua công tác kiểm sát, Viện KSND ban hành các văn bản yêu cầu, kiểm sát trực tiếp và ban hành kết luận, kiến nghị.

      Trong thời gian qua mối quan hệ phối hợp giữa Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú và linh hoạt hơn như: Phối hợp thông qua trao đổi trực tiếp, thông qua đối chiếu xác nhận số liệu, thông qua thông báo bằng văn bản, thông qua văn bản đề nghị phối hợp, thông qua tổ chức họp tổng kết và thông qua phối hợp kiểm tra việc giải quyết KN-TC cuả cấp dưới…vv. Căn cứ vào tình hình cụ thể và yêu cầu nhiệm vụ các đơn vị tư pháp xác định nội dung và hình thức phối hợp phù hợp, linh hoạt nằm đạt hiệu quả cao nhất trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng.

     Tóm lại: Ngoài mối quan hệ giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Tòa án được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh luôn xác định tầm quan trọng của mối quan hệ phối hợp trong hoạt động thực tiễn về thực hiện chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan, để tạo điều kiện thuận lợi cho các  cơ quan hoàn thành nhiệm vụ được giao trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng thì vấn đề xây dựng tốt mối quan hệ phối hợp thông qua quy chế là hết sức quan trọng. Trong những năm quan Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra -Công an tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, đã thực hiện và đạt được nhiều kết quả trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự. Mỗi đơn vị trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình và các quy định của pháp luật đã thực hiện việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự kịp thời, đúng pháp luật. Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao đã kiểm sát chặt chẽ Việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự. Căn cứ vào mối quan hệ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các cơ quan đã vận dụng  đúng đắn trong thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Ngoài ra để khắc phục những vướng mắc về mối quan hệ giữa các cơ quan này trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, mặt khác để cụ thể hóa những quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết và kiểm sát việc gải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh đã chủ trì phối hợp với Cơ quan điều tra- Công an tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quy chế phối hợp với nhiều nội dung và hình thức phối hợp phong phú.

     Mối quan hệ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và mối quan hệ theo quy chế phối hợp đã đượcViện KSND tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra- Công án tỉnh Hà Tĩnh và Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã vận dụng thực hiện một cách linh hoạt và đạt được nhiều kết quả trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự.

      4- Một số khó khăn vướng mắc, tồn tại  và hạn chế về thực hiện mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự.

     4.1- Về quy định của pháp luật tố tụng hình sự:

     Để thực hiện tốt việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong hình sự, khâu đầu tiên là Pháp luật tố tụng hình sự ngoài các quy định khác phải quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của cơ quan Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, qua nghiên cứu thấy Bộ luật tố tụng hình sự hiện nay còn có một số nội dung chưa quy định cụ thể về mối quan hệ giữa viện KSND với các cơ quan tư pháp khác, dẫn đến hạn chế hiệu quả công tác kiểm sát cụ thể:

      -Bộ luật tố tụng hình sự quy định  nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết KN-TC của các cơ quan tư pháp, nhưng lại không quy định trách nhiệm của các cơ quan tư pháp phải thông báo việc thụ lý giải quyết đơn khiếu nại cho Viện kiểm sát nhân dân. Trong thực tiễn đối với những đơn mà đương sự gửi cho Viện KSND thì Viện KSND nắm và kiểm sát được, còn những đơn KN-TC đương sự gửi trực tiếp cho cơ quan tư pháp giải quyết, nếu Viện KSND không phối hợp tốt và cơ quan tư pháp không cung cấp thì  Viện KSND khó quản lý, nắm để thực hiện chức năng kiểm sát.

     - Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định trách nhiệm của các cơ quan tư pháp sau khi giải quyết KN-TC phải giử kết quả cho Viện KSND để thực hiện chức năng kiểm sát, nội dung này tuy Thông tư liên ngành có đề cập nhưng cần được nâng lên thành luật hóa như quy định tại Điều 254 Luật tố tụng hành chính và điều 396 Bộ luật tố tụng dân sự.

        - Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BTP ngày 10/8/2005, có nội dung quy định còn hạn chế điều kiện để thực hiện mối quan hệ giữa Viện KSND với Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân trong việc thực hiện quyền trực tiếp kiểm sát việc giải quyết KN-TC cụ thể:

     Tại khoản 2 Điều 339 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “ Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết KN-TC tại Cơ quan điều tra, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các Cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành  tiến hành một số hoạt động điều tra”. Nhưng tại  Điểm 2.1, Mục 2 Phần IV Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BTP lại quy định điều kiện để Viện KSND trực tiếp kiểm sát là khi thực hiện 3 quyền yêu cầu (  cụ thể: Yêu cầu giải quyết KN-TC; Yêu cầu kiểm tra việc giải quyết KN-TC của cơ quan tư pháp cùng cấp  và cấp dưới; Yêu cầu cung cấp hồ sơ tài liệu) mà cơ quan tư pháp vẫn còn vi phạm. Việc Thông tư quy đinh như vậy và hạn chế mối quan hệ giữa Viện KSND với các cơ quan tư pháp, mặt khác không phát huy được hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết KN-TC đối với các cơ quan tư pháp.

4.2- Về  thực hiện mối quan hệ theo quy chế phối hợp

     - Trong thực tiễn và trong quy chế phối hợp hiện tại có nội dung xét thấy cần thiết phải quan hệ phối hợp nhưng chưa thực hiện được đó là: Quan hệ phối hợp trong “tiếp công dân”.

      Trong thực tiễn có một số trường hợp công dân đến klhiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ảnh có liên quan đến trách nhiệm của Cơ quan Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân, do vậy cần phải có mối quan hệ phối hợp trong những trường hợp này để giải thích và xử lý kịp thời. Việc phối này vừa nâng cao trách nhiệm của các cơ quan vừa tạo điều kiện cho công dân hiểu rõ vấn đề và tránh để công dân đi lại từ cơ quan này sang cơ quan khác mất thời gian, thực hiện tốt mối quan hệ này sẽ làm tăng thêm niềm tin của công dân vào các Cơ quan bảo vệ pháp luật.

     - Còn có trường hợp cơ quan tư pháp thông báo kết quả giải quyết KN-TC cho viện kiểm sát nhân dân chậm so với quy định trong quy chế phối hợp, làm ảnh ảnh đến hiệu quả công tác kiểm sát.

    - Theo quy đinh tại quy chế phối hợp thì định kỳ hàng tháng các cơ quan tư pháp cấp tỉnh phải thông báo kết quả thụ lý và giải quyết đơn về tư pháp cho Viện kiểm sát, để viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát. Trong thực tiễn còn có tình trạng cơ quan tư pháp gửi chậm, Viện kiểm sát nhân dân thường sang phối hợp trực tiếp để đối chiếu xác nhân số liệu.

     - Công tác tổng kết việc thực hiện quy chế phối hợp có năm còn chưa thực hiện được.

     4.3: Về công tác chỉ đạo điều hành và công tác cán bộ:

     -Hiện nay khâu công tác khiếu tố chưa được quan tâm đúng mức, do vậy việc thực hiện mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp khác đang tập trung chủ yếu vào các khâu công tác như: Hình sự, Dân sự, Hành chính…vv. Theo quy định của Viện KSND tối cao thì hiện tại các Phòng nghiệp vụ đang thực hiện nhiệm vụ tham mưu giải quyết đơn KN-TC  thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về  tư pháp của các cơ quan tư pháp, do vậy các Phòng nghiệp vụ tập trung vào kiểm sát các vụ án là chủ yếu nên ít đầu tư thời gian cho công tác kiểm sát đơn, cho nên thực hiện mối quan hệ trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động  tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng có phần hạn chế.

     - Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ liên quan đến công tác khiếu tố còn hạn chế, dẫn đến tính chuyên nghiệp của khâu công tác này chưa cao.

* Nguyên nhân của những tồn tại:

     - Khách quan: Trong một số trường hợp, pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định rõ và cụ thể mối quan hệ giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng, do vậy trong thực tiễn thực hiện chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan và thực hiện mối quan hệ giữa các cơ quan có gặp khó khăn.

  - Chủ quan: Việc thực hiện mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra  và Tòa án chưa được quan tâm đúng mức, một số nội dung phối hợp đề ra nhưng thực hiện chưa triệt để.

      IV- MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CÁO HIỆU QUẢ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT, CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG GIẢI QUYẾT VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KN-TC TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.

     Để tăng cường mối quan hệ giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Tòa án về giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan này hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình trong giải quyết và kiểm sát việc gải quyết KN-TC đúng pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho người khiếu nại tố cáo, chúng ta phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:

     1-Sửa đối, bổ sung một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự cụ thể:

         -  Cần đưa vào quy định bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự nội dung đó là: Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân sau khi thụ lý để giải quyết KN-TC thuộc thẩm quyền,có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Viện KSND cùng cấp biết. Việc quy định như vậy làm tăng mối quan hệ giữa Viện KSND và các cơ quan tư pháp, vừa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát quản lý và kiểm sát ngày từ khi mới thụ lý đơn, đảm bảo việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự kịp thời  và đúng quy định.

        - Đưa vào quy định bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự nội dung : Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân sau khi  giải quyết KN-TC, có trách nhiệm gửi văn bản giải quyết  đơn cho Viện KSND cùng cấp, việc quy định như vậy làm tăng mối quan hệ giữa Viện KSND với các cơ quan tư pháp, vừa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát quản lý và kiểm sát việc giải quyết KN-TC. Nội dung này Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT có quy định nhưng mới quy định gửi Quyết định giải quyết khiếu nại, mặt khác không quy định rõ thời gian phải gửi cho Viện kiểm sát,

      - Cần bổ sung  vào khoản 2 Điều 339 Bộ luật tố tụng hình sự điều kiện “ khi  xét thấy cần thiết” để trực tiếp kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự đối với các cơ quan tư pháp cụ thể:

2. Khi xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Cơ quan điều tra, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công án nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra”. Quy định như trên sẽ làm tăng mối quan hệ giữa viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan, mặt khác tăng thêm tính linh hoạt trong việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát và nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát. Hiện nay Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT có quy định mối quan hệ này nhưng điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện trực tiếp kiểm sát là hết sức bó hẹp, làm hạn chế rất nhiều đến mối quan hệ giữa viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp trong việc thực hiện nội dung trực tiếp kiểm sát.

     2- Tăng cường mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn về thực hiện chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan thông qua xây dựng Quy chế phối hợp liên ngành.

     Phải đánh giá một cách khách quan rằng, nếu chỉ thực hiện mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp thep quy định của pháp luật tố tụng như hiện nay thì các cơ quan tư pháp, nhất là Viện KSND sẽ gặp không ít khó khăn trong việc thực hiện chức năng kiểm sát của mình. Do vậy để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng thì Viện KSND các cấp cần linh hoạt, chủ động, chủ trì phối hợp với các cơ quan tư pháp cùng cấp xây dựng mối quan hệ phối hợp trong giải quyết và kiểm sát việc giả quyết KN-TC về hoạt động tư pháp.

     Nội quy chế cần phải quy định hết sức cụ thể và được xác lập mối quan hệ phối hợp từ: Công tác tiếp công dân đến KN-TC kiến nghị phản ảnh; Phân loại xử lý đơn , đến việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo; Phối hợp  liên ngành kiểm tra việc giải quyết KN-TC đối với cấp dưới để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết KN-TC và các nội dung phối hợp khác nhằm tạo điều cho Viện KSND thực hiện chức năng kiểm sát việc giả quyết KN-TC.

     Hình thức phối hợp phải phong phú và linh hoạt tùy theo nội dung công việc phối hợp và thời điểm phối hợp.

     Việc quy định nội dung quan hệ phối hợp cụ thể và hình thức phối hợp linh hoạt phong phú, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan trong việc thực hiện nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả  mối quan hệ trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng.

     3- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về công tác kiểm sát việc giải quyết KN-TC về tư pháp.

        Công tác khiếu tố nói chung và công tác Kiểm sát việc giải quyết KN-TC về tư pháp nói riêng, hiện tại chưa được đào tạo bằng lý luận tại nhà trường, cán bộ làm công tác này chủ yếu tự nghiên cứu thông qua các quy định của pháp luật và hướng dẫn của ngành, do vậy để cho đội ngũ làm công tác Khiếu tố nâng cao chất lượng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ và thông báo rút kinh nghiệm của các đơn vị trong toàn ngành, để từ đó các đơn vị Viện KSND cấp dưới học tập kinh nghiệm, nhằm nâng cao hiệu quả công tác.

  4- Cần chú trọng hơn trong công tác cán bộ.

         Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần phải xác định công tác cán bộ là khâu then chốt cho mọi thành công, Viện kiểm sát nhân dân muốn tăng cường, đổi mới  quan hệ phối phối hợp với các cơ quan tư pháp trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng, thì khâu đầu tiên cần được quan tâm đổi mới là khâu công tác cán bộ. Việc đổi mới công tác cán bộ có nhiều nội dung như; bố trí cán bộ, kiểm tra đánh giá, bồi dưỡng nghiệp vụ và động viên khen thưởng cụ thể:

         -Về bố trí cán bộ: Lãnh đạo Viện KSND các cấp cần tăng cường bố trí cán bộ  làm công tác khiếu tố, chú ý cả về số lượng và chất lượng cán bộ, có đủ lực lượng để thực hiện nhiệm vụ theo hướng tăng thêm nhiệm vụ giải quyết kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự.

          Đối với các phòng nghiệp vụ thuộc Viện tỉnh theo phân công nhiệm vụ như hiện nay đang thực hiện nhiệm vụ Kiểm sát việc giải quyết KN-TC về tư pháp, do vậy cần phân công kiểm sát viên có năng lực thực hiện nhiệm vụ này, tăng cường mối quan hệ với các cơ quan tư pháp để kiểm sát chặt chẽ nhằm bảo đảm việc giải quyết KN-TC của các cơ quan tư pháp đúng pháp luật. Đối với Viện KSND cấp huyện, cần lựa chọn những cán bộ có năng lực và kinh nghiệm để thực hiện nhiệm vụ này, Lãnh đạo Viện KSND cấp huyện cần nghiên cứu phân công nhiệm vụ theo hướng cán bộ chuyên trách, không làm kiêm nhiệm, có như vậy mới có đủ thời gian thực hiện nhiệm vụ khiếu tố  nói chung và công tác giả quyết, kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự nói riêng đạt hiệu quả.

         -Về kiểm tra đánh giá cán bộ: Lãnh đạo Viện KSND các cấp, Thủ trưởng đơn vị nghiệp vụ cần tăng cường công tác kiểm tra đánh giá cán bộ, để  phát hiện những tồn tại trong hoạt động nghiệp vụ của cán bộ dưới quyền, từ đó có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, nhằm nâng cao hiệu quả công tác khiếu tố nói chung và công tác giả quyết, kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự nói riêng. Công tác kiểm tra đánh giá  cán bộ càng thực hiện thường xuyên thì tạo điều kiện cho việc phân loại, bồi dưỡng và dự nguồn quy hoạch cán bộ, cũng như hiệu quả công tác khiếu tố ngày càng được nâng cao.

         - Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ: Lãnh đạo Viện KSND các cấp cần quan tâm công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác khiếu tố bằng nhiều hình thức như: Tổ chức tập huấn, ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, ban hành thông báo rút kinh nghiệm, để từ đó cán bộ làm công tác khiếu tố nắm bắt được nhưng quy định, phương pháp làm việc, khắc phục tồn tại để nâng cao hiệu quả công tác khiếu tố.

         -Việc động viên khen thưởng kịp thời cũng là một yếu tố hết sức quan trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác khiếu tố. Qua thực tiễn thấy rằng; công tác tổng kết các phong trao thi đua đột xuất và định kỳ hàng năm, tỷ lệ cán bộ làm công tác khiếu tố được khen thưởng rất ít, điều đó một mặt thể hiện năng lực và kết quả công tác của cán bộ làm công tác khiếu tố chưa cao, mặt khác cũng thể hiện sự quan tâm chưa đúng mức  đối với công tác khiếu tố.

         5- Cần đổi mới trong việc phân công nhiệm vụ về kiểm sát việc giải quyết KN-TC

        -Theo quy định hiện nay thì các Phòng nghiệp vụ được giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng. Nếu theo quy định phân công nhiệm vụ như hiện nay thì  mối quan hệ  của Viện KSND với các cơ quan tư pháp trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát đơn có phần hạn chế, dẫn đến hiệu quả công tác kiểm sát chưa cao, cụ thể: Trong thực tiễn các đơn vị nghiệp vụ thường chú trọng công tác kiểm sát các vụ án hình sự, còn đối với đơn khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự chưa được quan tâm đúng mức trong công tác phối hợp để thực hiện chức năng kiểm sát. Các đơn vị nghiệp vụ có lúc án nhiều, vụ việc phức tạp, kiểm sát viên dành thời gian dành cho công tác giải quyết các vụ việc, kiểm sát vụ án, còn thời gian dành cho công tác phối hợp để thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết KN-TC có phần hạn chế.

        - Do vậy để cho mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và Tòa án thực hiện thường xuyên, chặt chẽ và có hiệu quả, cần nghiên cứu phân công theo hướng giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp cho đơn vị khiếu tố thực hiện . Việc đổi mới phân công nhiệm vụ như trên thì các phòng nghiệp vụ mới có điều kiện kiểm sát các vụ án chặt chẽ và đơn vị khiếu tố cũng xác định được trách nhiệm của mình, có điều kiện đầu tư nghiên cứu tham mưu trong việc thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp để nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát.

        6- Liên ngành tư pháp trung ương cần phối hợp hướng dẫn về mối quan hệ phối hợp và việc xử lý mốt số loại đơn trong tố tụng hình sự.

        Thông qua thực tiễn  hiện nay, trong lĩnh vực tố tụng hình sự có các loại đơn chủ yếu sau: Đơn KN-TC về hoạt động tư pháp; Đơn yêu cầu khởi tố; Đơn tin báo TGTP; Đơn kháng cáo bản án; Đơn kiêu oan, kiến phản ảnh, yêu cầu khác.

        Đối với đơn KN-TC về hoạt động tư pháp, đơn yêu cầu khởi tố, đơn tố giác TBTP thì các cơ quan trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền của mình đã được quy định tiến hành xử lý, giải quyết đơn; đối với đơn kháng cáo thì được giải quyết theo trình tự tố tụng hình sự.

        Ngoài các đơn trên trong thực tiễn còn còn có đơn kêu oan, đơn kiến nghị, phản ảnh yêu cầu trong tố tụng hình sự, hiện nay chưa có hướng dẫn hoặc quy định về xử lý, giải quyết hoặc trả lời các loại đơn này. Đặc biệt chú ý là loại “đơn kêu oan”, trong thực tiễn cho thấy rằng thông qua đơn kêu oan nhiều vụ án mặc dù đã có hiệu lực pháp luật được xem xét lại phát hiện bị oan sai, do vậy việc xử lý, đơn kêu oan được thực hiện như thế nào? ở giai đoạn điều tra, truy tố thì cách xử lý thế nào, ở giai đoạn án có hiệu lực pháp luật thì xử lý ra sao, đây là một nội dung quan trọng mà liên ngành Trung ương cần có phối hợp hướng dân cấp dưới thực hiện.

          V- KẾT LUẬN

        -Việc nghiên cứu chuyên đề “Mối quan hệ phối giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trong công tác giải quyết  và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tố tụng hình sự” đã giải quyết một số vấn đề cụ thể:

         + Qua nghiên cứu chuyên đề, giúp ta làm rõ những bất cập về quy định của pháp luật tố tụng hình sự làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và Tòa án trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự, để từ đó kiến nghị khắc phục.

         + Thông qua tổng kết thực tiễn giúp ta thấy và đánh giá được một cách tổng quát mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và Tòa án trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN- TC trong tố tụng hình sự, kết quả đã đạt được và những vướng mắc, bất cập  làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp trong giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự..

          +Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đề ra được những giải pháp đổi mới, nhằm khắc phục những tồn tại liên quan quy định của pháp luật, quy chế hướng dẫn của ngành.

         - Áp dụng chuyên đề này  trong thực tiễn  sẽ mang lại hiệu quả sau:

         +Một số quy định của Bộ luật trong tố tụng hình sự  được bổ sung phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện mối quan hệ giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Tòa án trong việc thực hiện giải quyết và kiểm sát việc giải quyết KN-TC về hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng nói riêng.

         +Xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động thực tiễn phong phú, linh hoạt, tạo điều kiên thuận lợi cho các cơ quan tư pháp thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình.

+Hiệu quả công tác giải quyết KN-TC trong tố tụng hình sự ngày càng nâng cao, pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và đảm bảo quyền lợi cho người KN-TC, làm tăng niềm tin của nhân dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật.             

                                                               Hà Tĩnh, tháng 10  năm 2014

                                            Nguyễn Ngọc Bính- Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh

 

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP