NGUYỄN VĂN A CÓ ĐƯỢC HƯỞNG TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ “PHẠM TỘI LẦN ĐẦU THUỘC TRƯỜNG HỢP ÍT NGHIÊM TRỌNG” HAY KHÔNG?
09:34 09/07/2019

Nội dung vụ án: Tháng 3/2019, Nguyễn Văn A có hành vi tham gia Đánh bạc cùng các đồng phạm và bị Cơ quan điều tra khởi tố về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (tội phạm ít nghiêm trọng). Trước đó, tháng 8/2015, Nguyễn Văn A bị khởi tố, truy tố về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (khởi tố theo yêu cầu của người bị hại). Quá trình chuẩn bị xét xử, do người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố nên Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án. Quá trình truy tố, việc xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng trong vụ án Đánh bạc đối với Nguyễn Văn A còn có hai quan điểm trái ngược nhau.

Quan điểm thứ nhất: Nguyễn Văn A được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ”. Bởi lẽ, mặc dù Nguyễn Văn A trước khi phạm tội Đánh bạc đã có hành vi Cố ý gây thương tích bị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát truy tố về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự song vụ án này đã được Tòa án đình chỉ vì người bị hại rút đơn, điều này cũng nghĩa là Nguyễn Văn A chưa phạm tội. Do đó, Nguyễn Văn A được coi là chưa phạm tội lần nào.

Quan điểm thứ hai: Nguyễn Văn A không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trên vì Nguyễn Văn A đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc Tòa án đình chỉ vụ án, bị can đối với Nguyễn Văn A về tội Cố ý gây thương tích là do người bị hại rút đơn chứ không phải hành vi của Nguyễn Văn A không cấu thành tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này, tại Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn giải đáp về tình tiết “ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như sau: “Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội lần đầu.” Như vậy, theo hướng dẫn tại Công văn này, trong trường hợp nêu trên, Nguyễn Văn A có được xem là chưa lần nào phạm tội hay không?

Ngoài ra, theo Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 66 và 106 Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện thì tại khoản 2 Điều 2 có quy định về trường hợp phạm tội lần đầu như sau:

Các trường hợp được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Trước đó chưa phạm tội lần nào;

b) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;

c) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

Theo quy định trên thì ngoài trường hợp “Trước đó chưa phạm tội lần nào” thì còn có các trường hợp “ Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích. ” Tuy nhiên, trong trường hợp trên không thuộc trường hợp “được miễn trách nhiệm hình sự” và “ được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng” mà thuộc trường hợp “ đình chỉ do người bị hại rút đơn yêu cầu ” thì xử lý như thế nào?

Trên đây là vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự trong trường hợp cụ thể nêu trên. Rất mong nhận được sự trao đổi của các đồng nghiệp và độc giả./.

Đinh Thị Phương Thanh (Phòng 2)

    Ý kiến bạn đọc


    ĐĂNG NHẬP